Vì sao doanh nghiệp Việt cạnh tranh yếu ?

Enternews.vn Sửa đổi Hiến pháp trong hơn 30 năm qua đã có những tiến bộ nhất định trong việc tăng thêm quyền tự do kinh doanh của công dân và thu hẹp sự phân biệt đối xử giữa các các thành phần kinh tế .

Quay trở lại Hiến pháp 1980, điều 18 qui định: “Nhà nước hướng dẫn, sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất nhằm thực hiện một nền kinh tế quốc dân chủ yếu có hai thành phần: thành phần kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể của nhân dân lao động; kinh tế quốc doanh là chủ đạo và được phát triển ưu tiên".

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng công bố Nghị quyết 09/TƯ tại VCCI

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng công bố Nghị quyết 09/TƯ tại VCCI

Những thay đổi lớn trong ban hành chính sách

Hiến pháp 1992 đã ghi nhận có ba hình thức sở hữu, trong đó có sở hữu tư nhân. Hiến pháp đã tiếp tục định vị “chiếu trên” cho hai hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng, liệt kê đầy đủ năm thành phần kinh tế, trong đó lần nữa lại nhấn mạnh “thành phần kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân” . Đồng thời lần đầu tiên trong Hiến pháp đã ghi nhận “Các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế …đều bình đẳng trước pháp luật”.

Cùng với qui định "công dân được quyền tự do kinh doanh theo qui định của pháp luật", qui định "các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật”, Hiến pháp đã tạo cơ sở pháp lý cho việc ban hành Luật Doanh nghiệp 1999, được coi như là một “điểm sáng” giải phóng sức dân sau một thời gian dài chật vật trong cơ chế kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp trì trệ và tù đọng. Đã có những quả chín đầu mùa ghi nhận nỗ lực đổi mới kinh tế trong nước, hội nhập kinh tế quốc tế, đưa đất nước vào thời kỳ mới, đua tranh cùng quốc tế để phát triển quốc gia. Tuy nhiên, sóng gió lại đã xuất hiện, khủng hoảng tài chính thế giới, lạm phát phi mã, các DNNN, các tập đoàn quốc doanh lao đao…

Cải cách là cả một quá trình phát triển liên tục, không được phép dừng, nếu không muốn tụt hậu, là đòi hỏi tất yếu của cuộc sống, nhất là trong thời đại của khoa học kỹ thuật và hội nhập quốc tế. Hiến pháp 2013 được thông qua, đã tiến thêm một bước về quyền tự do kinh doanh: "Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm".

Có hai điểm khác cơ bản trong các qui định của Hiến pháp này so với Hiến pháp 1992. Một là chủ thề quyền tự do kinh doanh là “mọi người” chứ không đơn thuần chỉ là “công dân". Hai là quyền đó được thực hiện ở tất cả các ngành nghề mà "pháp luật không cấm”, chứ không phải là “theo qui định của pháp luật”.

Xa hơn, Hiến pháp 2013 đã bỏ việc liệt kê các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế cụ thể, thay qui định "kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo" tồn tại trong hai Hiến pháp trước bằng qui định "kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo". Hiến pháp này nhấn mạnh "Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật". Đã có một sự thay đổi dù chưa triệt để trong việc kéo các thành phần kinh tế xích lại gần nhau trên câu chữ của Hiến pháp!

  Một trong những nguyên nhân chính khiến sức cạnh tranh của DN Việt yếu nằm ở việc trong thực tiễn vẫn còn những phân biệt đối xử nặng nề giữa các thành phần kinh tế.

Năm 2011 Bộ Chính trị cũng đã ban hành Nghị quyết 09 -TW về vai trò của doanh nhân VN trong thời kỳ mới, nhấn mạnh doanh nhân Việt, không phân biệt họ làm trong khu vực quốc doanh hay tư nhân, đều là lực lượng quan trọng trong phát triển kinh tế nước nhà. Nhà nước phải tạo môi trường sản xuất, kinh doanh bình đẳng, thuận lợi cho họ; chỉ đạo triển khai thực hiện chiến lược phát triển đội ngũ doanh nhân, thường xuyên lắng nghe và tham vấn ý kiến của doanh nhân trong phát triển kinh tế - xã hội của ngành, địa phương. Quan tâm lãnh đạo đẩy mạnh cải cách hành chính, giảm phiền hà, sách nhiễu trong việc thực hiện các thủ tục hành chính đối với DN, doanh nhân.

Vẫn tồn tại những khoảng cách lớn từ thực tiễn

Như vậy là đã có những thay đổi lớn trong các chính sách của Đảng, các Hiến pháp của Nhà nước về các qui định bình đẳng, không phân biệt đối xử, hợp tác và cạnh tranh giữa các thanh phần kinh tế, giữa các doanh nhân thuộc mọi thành phần này.

Nhưng trong thực tế, tình trạng phân biệt đối xử vẫn rất nặng nề, thậm chí còn lan rộng ra cả khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, theo hướng bất lợi cho thành phần kinh tế tư nhân, khiến DN khu vực này trở nên “ốm yếu”.

15 năm sau, khu vực kinh tế này tuy có cải thiện được tình hình nhưng về cơ bản số lượng DN tăng nhưng rất chậm, năng suất, chất lượng thấp, qui mô có xu hướng nhỏ dần "li ti hóa", cạnh tranh yếu, bị nhũng nhiễu nhiều, khả năng hội nhấp thấp.

Nhìn sang khối DN, vốn được coi là chủ đạo (có lợi thế rất lớn về khai thác các nguồn lợi của quốc gia như đất đai, tài nguyên, khoáng sản, tài chính, tín dụng, thông tin, đấu thầu, nguồn nhân lực, tiếng nói đại diện bảo vệ bởi các cơ quan Nhà nước) thì cũng đang bị thách thức dữ dội, nhiều “quả đấm thép” trong số đó đang có nguy cơ “nóng chảy” trong sức nóng của cạnh tranh khốc liệt.

Một trong những nguyên nhân cơ bản khiến cho cả hai khối DN này yếu thế trên thương trường, yếu dần theo thời gian, chính là do có sự phân biệt đối xử, bất bình đẳng; một bên được o bế, nuôi mớm quá mức, một bên bị coi thường, lạnh nhạt trong một môi trường thiếu hẳn những chuẩn mực, tiêu chí của cạnh tranh lành mạnh, dù rằng cả trong chính sách, cả trong Hiến pháp đã có những qui định về bình đẳng, cạnh tranh và hợp tác. Muốn phát triển kinh tế tư nhân, phải đồng thời từ hai động thái.
Thứ nhất, tự thân khu vực này phải đổi mới quyết liệt.

Thứ hai phải đổi mới khu vực kinh tế quốc doanh, trong đó phải cải cách DNNN triệt để, khẩn trương.

Thay lời kết

Thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm nghiệm của chân lý. Thế giới hiện nay và thực tế VN cho thấy nếu biết tôn trọng, phát huy các qui luật của nền kinh tế thị trường ( qui luât giá trị , qui luật cạnh tranh có vai trò đặc biệt quan trọng), biết "khắc chế" các khiếm khuyết, méo mó của thị trường, có chính sách an sinh xã hội tốt, quốc gia sẽ có sự phát triển bền vững, công bằng, thịnh vượng và hạnh phúc. Điều này đòi hỏi phải biết vượt qua thái độ phân biệt đối xử, vượt qua được định kiến "chiếu trên, chiếu dưới" đối với các thành phần kinh tế cả trong nhận thức, chính sách, pháp luật và hành xử .

30 năm, khoảng thời gian đủ để các quốc gia quanh ta trở thành cường quốc kinh tế từ trong tro tàn, đổ nát của chiến tranh (Nhật Bản) hoặc vượt lên từ nghèo nàn chia cắt thành các quốc gia (lãnh thổ) công nghiệp mới (Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan …). Cũng khoảng thời gian đó, chúng ta đã hai lần sửa đổi Hiến pháp, tuyên ngôn về sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Tiếc thay, trong thực tiễn, sự phân biệt đối xử vẫn còn nặng nề và đó chính là một phần của nguyên nhân DN Việt yếu.

Đánh giá của bạn:

Mời các bạn tham gia vào Diễn đàn chuyên sâu: Doanh nhân, Doanh nghiệp, Diễn đàn bất động sản, Khởi nghiệp, Diễn đàn pháp luật, Diễn đàn Tài chính

Mời các bạn tham gia vào group Diễn đàn Doanh nghiệp để thảo luận và cập nhật tin tức.

Bạn đang đọc bài viết Vì sao doanh nghiệp Việt cạnh tranh yếu ? tại chuyên mục Chính trị - Xã hội của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan@dddn.com.vn, hotline: (024) 3.5771239,
Bình luận
Bạn còn /500 ký tự
Xếp theo: Thời gian | Số người thích