Liên quan tới cách thức quy định về ưu đãi cho gạo và lá thuốc lá được quy định tại Điều 3 của Dự thảo thì gạo và lá thuốc lá là hai mặt hàng duy nhất thuộc diện ưu đãi theo hạn ngạch thuế quan). Hiện ưu đãi với hai sản phẩm này được Dự thảo quy định cả trong 02 Phụ lục I và II.

Theo VCCI cách quy định này là không thích hợp bởi: Thứ nhất: Điều kiện hưởng ưu đãi của 2 nhóm sản phẩm này khác với các sản phẩm khác trong cùng Phụ lục I là khác nhau; Thứ hai: Việc nêu 2 sản phẩm này trong Phụ lục I không có ý nghĩa nào; Thứ ba: Hiện Điều 5 đã được thiết kế riêng cho 2 nhóm sản phẩm này

Vì vậy, đề nghị Ban soạn thảo bỏ 2 nhóm sản phẩm gạo và lá thuốc lá khỏi Phụ lục I.

Theo VCCI quy định về ưu đãi cho gạo và lá thuốc lá trong Nghị định ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt thực hiện Bản thỏa thuận thúc đẩy thương mại song phương Việt Nam – Campuchia giai đoạn 2019-2020 là không hợp lý.

Theo VCCI, quy định về ưu đãi cho gạo và lá thuốc lá trong Nghị định ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt thực hiện Bản thỏa thuận thúc đẩy thương mại song phương Việt Nam – Campuchia giai đoạn 2019-2020 là không hợp lý.

Về thuật ngữ sử dụng trong Dự thảo VCCI đề nghị Ban soạn thảo điều chỉnh lại các quy định như sau: Phụ lục I dùng từ “mặt hàng”, Phụ lục II lại dùng từ “hàng hóa”? Đề nghị Ban soạn thảo sử dụng thống nhất thuật ngữ

Phụ lục II cần nêu rõ diện ưu đãi (ví dụ “hạn ngạch thuế quan đặc biệt”) để tránh gây nhầm lẫn (Dự thảo chỉ nêu diện là “hạn ngạch thuế quan” – diện này có thể lẫn với về “hạn ngạch thuế quan” theo ATIGA, WTO)?

Phụ lục III cần điều chỉnh lại cho chính xác, ví dụ “Danh mục các cặp cửa khẩu được phép thông quan các mặt hàng hưởng ưu đãi theo Bản Thỏa thuận Việt Nam-Campuchia”

Về thuế suất ưu đãi đặc biệt và điều kiện hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt (Điều 4). Vì vậy, VCCI đề nghị Ban soạn thảo điều chỉnh một số nội dung của Điều này như sau:

Không ghi mức thuế ưu đãi (0%) trong tiêu đề của Điều:

Khoản 1: Khoản này suy đoán là quy định về mức thuế suất ưu đãi đặc biệt, vì vậy chỉ cần thiết kế quy định trực tiếp vào nội dung, ví dụ “Mức thuế suất ưu đãi đặc biệt theo Bản Thỏa thuận Việt Nam – Campuchia là 0%”

Khoản 2: Khoản này suy đoán là quy định về điều kiện hưởng thuế suất ưu đãi, do đó tất cả điều kiện nên quy định ở đây, bao gồm: (i) Loại mặt hàng (phải thuộc Phụ lục I), (ii) có xuất xứ (Giấy C/O form S) và (iii) Cửa khẩu nhập (phải thuộc Phụ lục III).

Về thuế suất và hạn ngạch thuế nhập khẩu với gạo và lá thuốc lá (Điều 5), VCCI cho rằng quy định hiện tại của Dự thảo rất rối, khó theo dõi. Đề nghị Ban soạn thảo thiết kế lại Điều này như sau:

Khoản 1 quy định về Thuế suất ưu đãi trong hạn ngạch (là 0%)

Khoản 2 quy định về Điều kiện hưởng thuế suất ưu đãi trong hạn ngạch (hàng hóa thuộc Phụ lục II, có Giấy C/O form S, nhập khẩu qua cửa khẩu thuộc Phụ lục III, điều kiện Bộ Công Thương quy định – có dẫn chiếu cụ thể)

Khoản 3 quy định về Thuế suất ngoài hạn ngạch cho gạo.

Khoản 4 quy định về Thuế suất ngoài hạn ngạch cho lá thuốc lá.

Đối với trường hợp thuế suất ngoài hạn ngạch, cần dẫn chiếu cụ thể tới văn bản liên quan.

Về hàng hóa nông sản được quy định tại Điều 6 theo VCCI thì không rõ quy định tại Khoản 1 và 2 của Điều 6 Dự thảo là nhằm mục đích gì, bởi:

Nếu theo quy định chung của pháp luật về xuất nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, thuế xuất nhập khẩu… thì không cần nêu trong Nghị định này (suy đoán là ngoài các trường hợp đáp ứng điều kiện để hưởng ưu đãi tại Điều 4 và 5 thì tất cả các trường hợp khác sẽ áp dụng pháp luật thông thường)

Phạm vi hàng hóa nông sản nêu tại khoản 1 có thể bao trùm hàng hóa nêu tại Điều 4 và 5 Dự thảo, dẫn tới nhầm lẫn. Nếu là cần một điều khoản để làm rõ rằng các ưu đãi trước đây (dành cho nông sản chưa qua chế biến do doanh nghiệp Việt Nam đầu tư tại Campuchia) sẽ không còn hiệu lực kể từ sau Nghị định này thì chỉ cần quy định trong Điều 7 – Tổ chức thực hiện về việc bãi bỏ các văn bản xyz trước kia là đủ.

Khoản 3 Điều 6 thực chất là để làm rõ cách thức tính hạn ngạch cho các hàng hóa ở Điều 5. Do đó sẽ thích hợp hơn nếu chuyển quy định này sang Điều 5.

Từ các lý do nêu trên, VCCI đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc:

Thứ nhất: Bỏ Điều 6

Thứ hai: Bổ sung 1 khoản về giá trị pháp lý của các văn bản liên quan trước đây vào Điều về Tổ chức thực hiện

Thứ ba: Chuyển khoản 3 Điều 6 lên Điều 5 Dự thảo.

Bạn đang đọc bài viết VCCI góp ý Dự thảo Nghị định ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt Việt Nam – Campuchia tại chuyên mục VCCI của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan@dddn.com.vn, hotline: (024) 3.5771239,