Tình tiết sự kiện: Công ty Tây Ban Nha (Nguyên đơn - Bên mua) xác lập hợp đồng với Công ty Việt Nam (Bị đơn - Bên bán) để mua cá (hợp đồng ký ngày 29/09/2010). Sau đó các bên có tranh chấp và Bị đơn cho rằng Nguyên đơn không có tư cách pháp nhân nên hợp đồng không có giá trị. Tuy nhiên, Hội đồng Trọng tài xác định Nguyên đơn có tư cách pháp nhân.

sfg

Việc đánh giá tư cách pháp nhân của doanh nghiệp nước ngoài cần được tiến hành trên cơ sở pháp luật nước ngoài có liên quan.

Trong vụ việc trên, Bị đơn cho rằng “Nguyên đơn được cấp Giấy phép đăng ký kinh doanh tại Tây Ban Nha vào ngày 24/03/2011. Như vậy, tại thời điểm ký kết hợp đồng với Bị đơn, Nguyên đơn chưa có tư cách pháp nhân. … Hợp đồng OPE 05 và OPE 06 đã bị vô hiệu về mặt hình thức và không có giá trị pháp lý thực hiện”.

Tuy nhiên, theo Hội đồng Trọng tài, “Giấy phép đăng ký kinh doanh không phải là căn cứ để xác định tư cách pháp nhân của Nguyên đơn, mà Nguyên đơn đã xuất trình trước Hội đồng Trọng tài Giấy chứng nhận thành lập Điều lệ thành lập và hoạt động của Nguyên đơn (có Chứng nhận lãnh sự của ĐSQ nước CHXHCNVN tại Vương quốc Tây Ban Nha ngày 14/12/2011) theo đó, Nguyên đơn là một pháp nhân độc lập được thành lập và hoạt động hợp pháp theo pháp luật của Tây Ban Nha vào ngày 03/10/1994. Như vậy, hợp đồng OPE 05 và OPE 06 không bị vô hiệu như lập luận của Bị đơn. Trong thực tế Nguyên đơn đang hoạt động hợp pháp tại Tây Ban Nha và có quan hệ thương mại với nhiều doanh nghiệp Việt Nam, kể cả Bị đơn”.

Trong pháp luật Việt Nam, doanh nghiệp có tư cách pháp nhân từ thời điểm được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Chẳng hạn, theo khoản 3 Điều 38 Luật Doanh nghiệp năm 2005, “Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh”. Quy định này được nhắc lại trong Luật Doanh nghiệp sửa đổi năm 2014 tại khoản 2 Điều 47 theo đó “công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp”.

Quy định trên được áp dụng cho doanh nghiệp Việt Nam nhưng không áp dụng cho doanh nghiệp nước ngoài. Thực ra, khoản 1 Điều 765 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định “năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân đó được thành lập”. Bộ luật dân sự năm 2015 có sự thay đổi nhưng về cơ bản vẫn kế thừa quy định vừa nêu vì khoản 1 và 2 Điều 676 quy định “quốc tịch của pháp nhân được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân thành lập. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân; tên gọi của pháp nhân; đại diện theo pháp luật của pháp nhân; việc tổ chức, tổ chức lại, giải thể pháp nhân; quan hệ giữa pháp nhân với thành viên của pháp nhân; trách nhiệm của pháp nhân và thành viên của pháp nhân đối với các nghĩa vụ của pháp nhân được xác định theo pháp luật của nước mà pháp nhân có quốc tịch”.

Do đó, việc xác định doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hay không cũng không nên được xác định theo pháp luật Việt Nam mà nên “theo pháp luật của nước nơi pháp nhân đó được thành lập”. Do đó, việc Hội đồng Trọng tài xác định “Giấy phép đăng ký kinh doanh không phải là căn cứ để xác định tư cách pháp nhân của Nguyên đơn” là thuyết phục, chúng ta không thể lấy quy định cho doanh nghiệp Việt Nam để áp đặt cho doanh nghiệp nước ngoài. Vì vậy, khi tham gia giao dịch với đối tác nước ngoài, doanh nghiệp Việt Nam không nên dựa vào pháp luật Việt Nam để xem xét tư cách pháp nhân của đối tác nước ngoài.

Vẫn theo Hội đồng Trọng tài, Nguyên đơn có tư cách pháp nhân vì “Giấy chứng nhận thành lập Điều lệ thành lập và hoạt động của Nguyên đơn (có Chứng nhận lãnh sự của ĐSQ nước CHXHCNVN tại Vương quốc Tây Ban Nha ngày 14/12/2011) theo đó, Nguyên đơn là một pháp nhân độc lập được thành lập và hoạt động hợp pháp theo pháp luật của Tây Ban Nha vào ngày 03/10/1994”. Điều đó có nghĩa là Hội đồng Trọng tài đã xác định tư cách pháp nhân của doanh nghiệp nước ngoài trên cơ sở Giấy tờ của doanh nghiệp nước ngoài mà cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cung cấp. Hướng xác định như vậy là thuyết phục mà doanh nghiệp nên biết khi đề cập tới tư cách pháp nhân của đối tác nước ngoài.

Nói tóm lại, khi xác lập giao dịch với đối tác nước ngoài, doanh nghiệp Việt Nam không thể xem xét tư cách pháp nhân của doanh nghiệp trên cơ sở các quy định về tư cách pháp nhân được áp dụng cho doanh nghiệp Việt Nam. Việc đánh giá tư cách pháp nhân của doanh nghiệp nước ngoài cần được tiến hành trên cơ sở pháp luật nước ngoài có liên quan.

Trích cuốn sách "Giải quyết tranh chấp hợp đồng -  Những điều doanh nhân cần biết" - VIAC. Sách được phân phối trên tiki theo link: https://tiki.vn/giai-quyet-tranh-chap-hop-dong-nhung-dieu-doanh-nhan-can-biet-p25961047.html

Bạn đang đọc bài viết Tư cách pháp nhân của đối tác nước ngoài tại chuyên mục Pháp luật của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan@dddn.com.vn, hotline: (024) 3.5771239,