FDI lấn lướt, trong khi FTA mới chỉ là cơ hội

Enternews.vn Đó là chia sẻ của TS. Lương Minh Huân - Viện Phát triển doanh nghiệp (VCCI) tại Hội thảo công bố Báo cáo thường niên Kinh tế và Thương mại Việt Nam 2019.

TS. Lương Minh Huân cho biết, tỉ lệ hàng hóa xuất khẩu đến các thị trường mà Việt Nam đang có FTA và tận dụng được cơ hội ưu đãi thuế xuất mới chỉ đạt 39% trong năm 2018. Ảnh: Nguyễn Việt

Theo TS. Lương Minh Huân, tỉ lệ hàng hóa xuất khẩu đến các thị trường mà Việt Nam đang có FTA và tận dụng được cơ hội ưu đãi thuế mới chỉ đạt 39% trong năm 2018. Ảnh: Nguyễn Việt

Đứng trên phương diện tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp, ông Huân đưa ra một số đánh giá về 3 nội dung có liên quan chặt chẽ đến cộng đồng doanh nghiệp. Đó là xuất, nhập khẩu; bảo hộ thương mại; một số khuyến nghị chính sách.

Thành tích xuất siêu đến từ FDI

Trong chương 5 về xuất, nhập khẩu hàng hóa, các phân tích cho thấy sự tăng trưởng của hoạt động xuất, nhập khẩu trong năm 2018 đã đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có độ mở kinh tế lớn nhất trong khu vực cũng như trên thế giới.

Ví dụ, tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2018 đạt trên 480 tỷ USD, gấp gần 2 lần GDP, nhìn thoáng qua có thể thấy đây là kết quả thành công của tiến trình hội nhập. Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ hơn, có vẻ như chúng ta chỉ thành công mở cửa, nhưng chưa thành công về hội nhập.

Lý do theo ông Huân, thứ nhất là về tỷ trọng xuất khẩu khu vực kinh tế trong nước ngày càng giảm đi. Năm 2007, Việt Nam bắt đầu gia nhập WTO khu vực trong nước chiếm 51,5% kim ngạch xuất khẩu, nhưng đến 2018, khu vực này chỉ còn chiếm 28,5%. Trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI ngày càng tăng, từ 48,5% lên 71,5% trong cùng thời kỳ.

Nếu chỉ xét riêng trong năm 2018, khu vực trong nước nhập siêu đến 25,6 tỷ USD, trong khi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 32,8 tỷ USD. Như vậy, thành tích xuất siêu mà Việt Nam đạt được trong năm 2018 hoàn toàn phụ thuộc vào khu vực FDI mang lại.

“Như chúng ta đều biết, khu vực FDI thường hoạt động trong lĩnh vực gia công lắp ráp, rất ít giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Chính vì vậy, nếu không cải thiện điều này thì sẽ cho thấy năng lực hội nhập của nền kinh tế Việt Nam rất hạn chế, vì quá phụ thuộc vào khu vực FDI”, ông Huân nói.

Thứ hai, thời gian gần đây chúng ta thường nghe nhắc nhiều đến từ khóa EVFTA. Cùng với EVFTA và CPTPP - là hai hiệp định thương mại tự do thế hệ mới lớn nhất, tiêu chuẩn cao nhất và có mức độ tự do hóa sâu rộng nhất từ trước đến nay của Việt Nam. Những hiệp định này hứa hẹn mang lại xuất khẩu cho các doanh nghiệp sang những thị trường có nhiều ưu đãi về thuế xuất. Tuy nhiên, tất cả mới chỉ dừng lại ở cơ hội, việc các doanh nghiệp Việt Nam có thể tận dụng được các cơ hội này hay không còn đang là câu hỏi cần lời giải. Vì tỉ lệ hàng hóa xuất khẩu đến các thị trường mà Việt Nam đang có FTA và tận dụng được cơ hội ưu đãi thuế xuất mới chỉ đạt 39% trong năm 2018.

Điều này có nghĩa, hơn 60% hàng hóa Việt Nam xuất khẩu đến các quốc gia đã ký FTA nhưng lại không thể tận dụng được hiệp định FTA  này. Để tận dụng được các FTA, hàng hóa xuất khẩu phải đảm bảo điều kiện về xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh an toàn thực phẩm…Đây chính là rào cản khiến các doanh nghiệp trong nước chưa thể tận dụng hết cơ hội từ các FTA, điều này thể hiện năng lực hội nhập của chúng ta vẫn còn rất hạn chế.

Cuộc chiến thương mại ngày càng phức tạp

Chương 6 về bảo hộ thương mại, cho thấy các nước kém phát triển thường có xu hướng bảo hộ nhiều hơn so với nước phát triển, với mục đích chủ yếu bảo hộ nền sản xuất trong nước còn non trẻ trước sự cạnh tranh từ bên ngoài. Tuy nhiên, gần đây có một số quốc gia phát triển như Mỹ - một quốc gia từng đi đầu trong tự do hóa thương mại lại đang áp dụng nhiều các biện pháp bảo hộ thông qua hình thức phát động các cuộc chiến tranh thương mại không chỉ với Trung Quốc, mà với ngay cả những nước đồng minh thân cận với Mỹ như Hàn Quốc, Canada, Mexico, EU…

Vậy câu hỏi đặt ra, liệu có phải thế giới đang có xu hướng bảo hộ hay không? Theo quan điểm cá nhân ông Huân, để trả lời câu hỏi này cần xem xét trên nhiều khía cạnh. Cuộc chiến thương mại do Mỹ khởi xướng diễn biến ngày càng phức tạp. Thương mại thế giới dường như bị đảo lộn, và đang có cảm giác dòng chảy thương mại tự do bị thay thế hoàn toàn bởi xu hướng bảo hộ.

Nhưng thực tế không phải như vậy. Qua thời gian xâu chuỗi các sự kiện sẽ thấy đường hướng ngày càng rõ nét về những mục tiêu đầy logic. Chúng ta nhìn thấy xu hướng bảo hộ ở đây là sự tự do hóa có lợi  hơn cho mình. Điều này thể hiện qua cuộc chiến thương mại giữa Mỹ với các quốc gia khác.

Các biện pháp bảo hộ của  Mỹ đều hướng tới các FTA mới có lợi hơn cho Mỹ, nhưng vẫn có sự tự do hóa một cách nhất định. Trên bình diện đa phương, xu hướng hợp tác và tự do hóa để đối phó với bảo hộ hay cạnh tranh cục bộ đang trở thành trào lưu. Cụ thể, khi TPP không thể thực hiện do Mỹ rút lui, thì đã có CPTPP thay thế; khi Nhật Bản và EU bị chính sách cuả Mỹ tác động thì hai đối tác này đã nhanh chóng hoàn tất các cuộc đàm phán để sớm ký kết hiệp định thương mại với nhau.

“Từ góc nhìn như vậy, bức tranh tổng thể thương mại thế giới không phải đang bảo hộ hơn, mà chỉ diễn ra phức tạp hơn. Một bên dùng bảo hộ để buộc các đối tác khác phải tự do, phần còn lại dùng bảo hộ để tự vệ nhưng vẫn hướng tới tự do”, ông Huân phân tích.

Trung Quốc vô địch cạnh tranh về giá

Cuối cùng là khuyến nghị doanh nghiệp về những cơ hội hội và thách thức. Chúng ta có thể nhìn thấy rõ cơ hội của doanh nghiệp, nhưng theo ông Huân không thật sự chắc chắn nếu nói các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội xuất khẩu sang thị trường Mỹ hay Trung Quốc với những sản phẩm bị đánh thuế.

Tuy nhiên, phải hiểu rằng, Trung Quốc đã quá quen thuộc với việc bị áp giá cao từ các thị trường khác, vì họ nổi tiếng là quốc gia vô địch cạnh tranh về giá, có thể chấp nhận bị áp giá cao từ hàng chục đến hàng trăm lần. Chính vì vậy, sẽ không có việc thị trường bị bỏ trống, mà chỉ giảm sức cạnh tranh của hàng hóa Trung Quốc tại các thị trường bị đánh thuế .

Ngoài ra, khi hàng hóa Trung Quốc gặp khó khăn khi vào thị trường Mỹ, thì họ sẽ xoay chuyển sang các thị trường khác mà hàng hóa Việt Nam đang có mặt, như vậy sự cạnh tranh của hàng Việt Nam sẽ càng gay gắt hơn. Ngay tại thị trường Việt Nam, hàng hóa Trung Quốc có thể tràn ngập và gây khó khăn cho doanh nghiệp trong nước.

Thách thức tiếp theo là chuyển dịch đầu tư, nguy cơ và chuyển dịch giả mạo, gian lận thương mại từ Trung Quốc sang Việt Nam để lấy xuất xứ hay thành lập các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam chỉ để dán mác Việt Nam nhưng thực chất là hàng Trung Quốc. Điều này gây tổn hại đến hàng hóa và thương hiệu của Việt Nam.

Bạn đang đọc bài viết FDI lấn lướt, trong khi FTA mới chỉ là cơ hội tại chuyên mục Kinh tế vĩ mô của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan@dddn.com.vn, hotline: (024) 3.5771239,
Bình luận
Bạn còn /500 ký tự
Xếp theo: Thời gian | Số người thích