Thị trường vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam: Thực trạng và mô hình

Enternews.vn Hoạt động khởi nghiệp đã và đang trở thành làn sóng có sức lan tỏa mạnh mẽ trong xã hội, cộng đồng doanh nghiệp và thế hệ trẻ ở Việt Nam.

Tuy nhiên, việc tiếp cận vốn đang là rào cản lớn của khu vực doanh nghiệp khởi nghiệp.

Để thúc đẩy sự phát triển của hệ sinh thái doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam, việc xây dựng thị trường vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp là việc làm cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Bài viết khảo sát thực trạng các nguồn vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp, từ đó đề xuất mô hình thị trường vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam.

Tổng quan về các nguồn vốn hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp

Nguồn lực tài chính là một trong những cấu phần quan trọng của hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp (doanh nghiệp khởi nghiệp), nguồn tài chính đầu tiên xuất phát từ vốn của chính mình và của các cộng sự, người thân. Sau giai đoạn này, ngoài nội lực, thì các doanh nghiệp khởi nghiệp có thể quan tâm tới các nguồn vốn từ các tổ chức, cá nhân chuyên nghiệp khác như:

Quỹ đầu tư mạo hiểm

Đầu tư mạo hiểm (ĐTMH) là hoạt động đầu tư vào các doanh nghiệp khởi nghiệp có tiềm năng phát triển. Đây là hình thức đầu tư cổ phần, chuyên nghiệp nhưng có rủi ro cao. Nguồn vốn ĐTMH có thể được thu hút từ cá nhân, tổ chức, quỹ hưu trí, quỹ đầu tư, định chế tài chính, doanh nghiệp, Chính phủ... Thông thường, nguồn vốn này xuất phát từ các Quỹ ĐTMH. Đây chính là hình thức tài trợ vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp phổ biến hiện nay. Quỹ ĐTMH tập trung vào các doanh nghiệp khởi nghiệp có tiềm năng phát triển đột phá. Những thành viên tham gia góp vốn vào các Quỹ ĐTMH thường là các nhà đầu tư (NĐT) chuyên nghiệp, chẳng hạn như các cá nhân nhiều tiềm lực tài chính, các ngân hàng đầu tư và các tổ chức tài chính khác. Nhiều NĐT tham gia không chỉ đóng góp tài chính, mà có thể đóng góp cho doanh nghiệp khởi nghiệp cả về kỹ năng, chuyên môn nghiệp vụ quản lý và kỹ thuật. Đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp, trong giai đoạn 2 năm đầu mới hoạt động, nguồn vốn từ Quỹ ĐTMH là chủ yếu, do các doanh nghiệp này chưa tiếp cận được với vốn tín dụng của các tổ chức tín dụng hoặc thị trường vốn dành cho công chúng.

Khảo sát cho thấy, các quốc gia phát triển ngày càng quan tâm, khuyến khích phát triển các quỹ ĐTMH, thay vì sử dụng vốn ngân sách nhà nước để hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp. Hiện nay, Israel và Mỹ đi đầu về các hoạt động này. Tỷ trọng vốn ĐTMH ở 2 quốc gia này đạt gần 0,4% GDP. Về giá trị tuyệt đối, thì phần vốn này của Mỹ, ước đạt gần 70 tỷ USD, chiếm khoảng 86,6% tổng vốn mạo hiểm toàn khối OECD.

Hoạt động của các Quỹ ĐTMH tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương ngày càng sôi động hơn và đã tiếp cận quy mô như tại Mỹ...

Tuy nhiên, hình thức gọi vốn từ các quỹ mạo hiểm cũng có những hạn chế nhất định, đặc biệt trong cách cấp vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp. Quỹ ĐTMH rót vốn theo dạng hợp đồng góp vốn, trở thành một cổ đông của doanh nghiệp, có quyền điều hành và chi phối quyết định của nhà sáng lập. Trong quá trình đầu tư và vận hành doanh nghiệp, nếu có sự bất ổn nào, Quỹ ĐTMH có thể thu hẹp quy mô cấp vốn. Đối với các quỹ đầu tư quốc tế, hoạt động của họ phải chịu các rủi ro về kinh tế và chính trị. Do là nguồn vốn ĐTMH, chấp nhận rủi ro cao để đạt được lợi nhuận vượt trội, nên các quyết định đầu tư của Quỹ chỉ được đưa ra, dựa trên những ý tưởng đột phá, kế hoạch kinh doanh và kế hoạch tài chính mạch lạc, rõ ràng. Vì vậy, để có thể tiếp cận, thu hút được vốn từ quỹ, các doanh nghiệp khởi nghiệp phải vượt qua các vòng lựa chọn kỹ lưỡng. Cần lưu ý, ngoài Quỹ ĐTMH, còn có một loại hình quỹ đầu tư khác: Quỹ vốn cổ phần riêng lẻ cũng huy động vốn từ các NĐT chuyên nghiệp và đều tài trợ cho doanh nghiệp nhỏ, tiềm năng phát triển cao, rủi ro thu hồi vốn cao. Tuy nhiên, giữa 2 loại hình quỹ này có sự khác biệt dựa trên các đặc điểm sau: (i) Loại hình doanh nghiệp là đối tượng được nhận vốn đầu tư; (ii) Quy mô vốn đầu tư; (iii) Lượng cổ phần nhận được từ hoạt động đầu tư; (iv) Vòng đời của doanh nghiệp tiếp nhận vốn đầu tư. Các Quỹ ĐTMH tập trung vào các doanh nghiệp khởi nghiệp mới thành lập (thường là dưới hai năm), chủ yếu là các doanh nghiệp công nghệ cao có tiềm năng phát triển. Các Quỹ ĐTMH thường đa dạng hóa hoạt động đầu tư của mình, nắm giữ cổ phần không chi phối và thường là ít hơn 50% vốn cổ phần tại các doanh nghiệp này. Trong khi đó, các quỹ PE tập trung vào các doanh nghiệp nhỏ có tuổi đời hoạt động dài hơn và có doanh thu nhất định. Các quỹ PE, không quá chú trọng tới sự phát triển đột biến của doanh nghiệp, mà chỉ đầu tư vào các doanh nghiệp bị thị trường định giá quá thấp so với giá trị thực của doanh nghiệp. Quy mô đầu tư từ các quỹ này thường lớn, chi phối và nắm giữ từ 50% trở lên, hình thức đầu tư cũng đa dạng hơn, ví dụ như vốn vay. Như vậy, việc đầu tư của các Quỹ ĐTMH thường là mạo hiểm và rủi ro hơn.

Hoạt động gọi vốn cộng đồng

Gọi vốn cộng đồng (VCĐ) là loại hình huy động tài chính nhằm thu hút một lượng đóng góp nhỏ, định kỳ từ nhiều NĐT để tài trợ cho các dự án kinh doanh, khởi nghiệp, gây dựng doanh nghiệp xã hội hoặc phát triển sản phẩm, các chiến dịch gây quỹ từ thiện thông qua các nền tảng điện tử trung gian. Có nhiều hình thức gọi VCĐ, ví dụ như bán trước, đổi vốn lấy cổ phần, đổi vốn lấy tài sản mã hóa, đổi vốn lấy nợ, góp vốn từ thiện... Trong các hình thức gọi VCĐ, hình thức đổi vốn lấy cổ phần là phổ biến hơn cả.

Ưu điểm của mô hình gọi VCĐ là quy trình đơn giản, dễ tiếp cận, mức độ cạnh tranh thấp hơn so với tiếp cận nguồn vốn ĐTMH. doanh nghiệp khởi nghiệp có thể dễ dàng đàm phán và đưa ra các điều khoản hợp đồng có lợi hơn so với quỹ ĐTMH mạo hiểm. Các nền tảng gọi VCĐ cũng cung cấp dịch vụ tư vấn cho doanh nghiệp về chiến lược huy động vốn. Tuy nhiên, nguồn vốn từ hoạt động gọi VCĐ thường ở quy mô nhỏ, không phù hợp với những dự án khởi nghiệp có tính chất phức tạp và nhu cầu vốn lớn.

Hoạt động của nhà đầu tư thiên thần

NĐT thiên thần là những cá nhân có tiềm lực tài chính lớn, sẵn sàng đầu tư vào doanh nghiệp khởi nghiệp ở giai đoạn đầu sau khi hình thành ý tưởng, hoặc giai đoạn sau khi doanh nghiệp hình thành nhưng còn khó khăn về tài chính. NĐT thiên thần không nhất thiết phải là các NĐT chuyên nghiệp, nhưng hầu hết các NĐT chuyên nghiệp đều có những hoạt động của NĐT thiên thần. Các khoản tài trợ vốn của các NĐT thiên thần thường được đổi lấy cổ phiếu thông thường, ưu đãi hoặc vốn vay có thể chuyển đổi thành cổ phiếu.

Ưu điểm của kênh cấp vốn thông qua các NĐT thiên thần là việc dễ tiếp cận đối với doanh nghiệp khởi nghiệp ở giai đoạn bắt đầu hình thành. Các khoản đầu tư này thường không áp dụng điều khoản kiểm soát hoạt động của công ty. Vai trò của các NĐT không chỉ là cung cấp vốn, mà còn tư vấn chiến lược, giám sát, thu hút nguồn lực hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, động viên, hướng dẫn, hỗ trợ về kỹ năng và tinh thần cho các cá nhân sáng lập doanh nghiệp khởi nghiệp (Politis, 2008). Tuy nhiên, do là nguồn vốn từ các cá nhân, nên quy mô vốn đầu tư này còn khá hạn chế và tính chất lỏng lẻo của khoản đầu tư có thể dẫn đến sự bất đồng quan điểm, gây ảnh hưởng tới sự phát triển của doanh nghiệp khởi nghiệp.

Mô hình thị trường vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp

Thị trường vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp là một nhân tố quan trọng, cấu thành hệ sinh thái khởi nghiệp. Thị trường vốn truyền thống cho doanh nghiệp khởi nghiệp có một số đặc điểm sau:

(1) Thị trường vốn truyền thống cho doanh nghiệp khởi nghiệp được tổ chức theo hình thức phi tập trung, thỏa thuận trực tiếp giữa bên đầu tư và nhận đầu tư. Khung pháp lý áp dụng cho hoạt động là Luật doanh nghiệp, Luật Thương mại, hoặc Luật Dân sự theo quy định của từng quốc gia. Với tính chất giao dịch thỏa thuận, thương lượng

song phương, các chủ thể tham gia thị trường vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp thường là những định chế, cá nhân có mạng lưới quan hệ rộng, đóng vai trò trung gian kết nối giữa các NĐT tiềm năng (bên mua) và các doanh nghiệp khởi nghiệp hoặc NĐT hiện tại (bên bán).

(2) Khi đã đủ điều kiện chào bán ra công chúng, cổ phiếu phát hành theo hình thức chào bán ra công chúng của doanh nghiệp khởi nghiệp là một dạng cổ phiếu đại chúng chưa niêm yết. Sau khi tiến hành IPO lần đầu, công ty cũng chuyển từ loại hình công ty cổ phần tư nhân sang công ty đại chúng, đặt dưới sự quản lý của cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán và tuân thủ các quy định của pháp luật chứng khoán. Các doanh nghiệp này có nghĩa vụ công bố thông tin theo quy định. Sau đó, cổ phiếu phát hành có thể được giao dịch khớp lệnh tập trung nếu đủ điều kiện niêm yết trên các nền tảng giao dịch chứng khoán (GDCK), GDCK hoặc giao dịch thỏa thuận trên thị trường phi tập trung.

Thị trường vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam: Thực trạng và mô hình - Ảnh 1
Trên thực tế, giao dịch cổ phần doanh nghiệp khởi nghiệp trên thị trường tập trung không phải là một phương thức giao dịch phổ biến trong khu vực khởi nghiệp. Với sự phát triển của công nghệ, nhiều hoạt động giao dịch cổ phiếu của các doanh nghiệp khởi nghiệp đã ra đời. Điểm khác biệt giữa các nền tảng giao dịch cổ phiếu của doanh nghiệp khởi nghiệp với các hệ thống giao dịch cổ phiếu thông thường có thể nhận diện như sau

Thứ nhất, đây là thị trường vốn dưới chuẩn, với đối tượng chính là cổ phiếu của các doanh nghiệp khởi nghiệp. Về thiết kế và tổ chức thị trường, nhìn chung cũng được thiết kế trên cùng cơ sở hạ tầng và cơ chế vận hành giống như các thị trường chính thức. Về tiêu chí, điều kiện chào bán, phát hành và niêm yết, các doanh nghiệp khởi nghiệp được áp dụng bộ tiêu chí tối giản hơn, phù hợp với các đối tượng doanh nghiệp tham gia thị trường là các doanh nghiệp khởi nghiệp và doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nghĩa vụ về công bố thông tin và duy trì niêm yết, thời gian, quy trình thủ tục, và chi phí xét duyệt cũng được giảm bớt so với các thị trường chính.

Thứ hai, nền tảng này cho phép gắn kết hoạt động chào bán sơ cấp với giao dịch thứ cấp. Sau khi phát hành, các cổ phiếu này cũng được đăng ký giao dịch ngay trên nền tảng giao dịch cổ phiếu của các doanh nghiệp khởi nghiệp.

Thứ ba, NĐT tham gia nền tảng giao dịch này chủ yếu là NĐT chuyên nghiệp, bao gồm các quỹ ĐTMH, quỹ vốn cổ phần riêng lẻ, các NĐT thiên thần hoặc các tổ chức cá nhân là NĐT chuyên nghiệp. Một số quốc gia cho phép NĐT cá nhân tham gia giao dịch trên nền tảng giao dịch cổ phiếu của các doanh nghiệp khởi nghiệp, tuy nhiên có quy định hạn chế quy mô đầu tư của các NĐT cá nhân...

Thực trạng thị trường vốn doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam và mô hình đề xuất

Kể từ năm 2016 trở lại đây, Việt Nam đã thực sự quan tâm đến phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp. Với mục tiêu hướng đến “Quốc gia khởi nghiệp”, Chính phủ đã có nhiều chính sách hỗ trợ, thúc đẩy khu vực doanh nghiệp khởi nghiệp phát triển. Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ ngày 16/5/2016 về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 xác định: Nhà nước có chính sách đặc thù để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và có tiềm năng tăng trưởng cao phát triển. Tháng 6/2017, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được Quốc hội thông qua, tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam. Ngày 11/3/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 38/2018/NĐ-CP quy định chi tiết về quản lý và hoạt động của các Quỹ ĐTMH. Chị thị số 09/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 18/2/2020 cũng đã tạo điều kiện thuận lợi để hình thành sân chơi chuyên nghiệp cho các NĐT mạo hiểm, thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa các nguồn lực đầu tư, đặc biệt là đầu tư từ khu vực tư nhân cho các đối tượng là doanh nghiệp khởi nghiệp. Nhờ đó, hoạt động khởi nghiệp đã và đang trở thành làn sóng có sức lan tỏa mạnh mẽ trong xã hội, cộng đồng doanh nghiệp và thế hệ trẻ ở Việt Nam trong thời gian gần đây.

Theo thống kê của Tạp chí Echelon (Singapore), Việt Nam hiện có khoảng 3.000 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, tăng gần gấp 2 lần so với số liệu cuối năm 2017 (khoảng 1.800 doanh nghiệp). Khoảng 40 cơ sở ươm tạo khởi nghiệp, tổ chức thúc đẩy kinh doanh đang hoạt động trên cả nước. Về hoạt động tài chính, hiện có khoảng 40 quỹ đầu tư mạo hiểm đang hoạt động tại Việt Nam. Một thống kê khác của Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy, tính trong 2 năm 2018-2019, tổng số doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo chiếm đa số về mặt số lượng các doanh nghiệp xin đăng ký mới (chiếm 90% tổng số các doanh nghiệp xin đăng ký mới). Tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo tăng gấp nhiều lần so với doanh nghiệp lớn.

Đánh giá của bạn:

Mời các bạn tham gia vào Diễn đàn chuyên sâu: Doanh nhân, Doanh nghiệp, Diễn đàn bất động sản, Khởi nghiệp, Diễn đàn pháp luật, Diễn đàn Tài chính

Mời các bạn tham gia vào group Diễn đàn Doanh nghiệp để thảo luận và cập nhật tin tức.

Bạn đang đọc bài viết Thị trường vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam: Thực trạng và mô hình tại chuyên mục Khởi nghiệp của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan@dddn.com.vn, hotline: (024) 3.5771239,
Bình luận
Bạn còn /500 ký tự
Xếp theo: Thời gian | Số người thích