Hôm nay (7/8), Thủ tướng Chính phủ sẽ chủ trì Hội nghị "Cải thiện năng suất lao động quốc gia".

Sau hơn 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn. Tuy nhiên, đến nay nền kinh tế vẫn đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức và còn khoảng cách khá xa so với các nước trong khu vực. Để tránh nguy cơ tụt hậu và vượt qua bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam cần tập trung chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, chất lượng và hiệu quả, trong đó trọng tâm là cải thiện năng suất lao động để tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trong tương lai.

NSLĐ của Việt Nam chỉ bằng 7,3% mức năng suất của Singapore, 19% của Malaysia, 37% của Thái Lan, 44,8% của Indonesia và bằng 55,9% năng suất lao động của Philippines.

Năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng 7,3% mức năng suất của Singapore, 19% của Malaysia, 37% của Thái Lan, 44,8% của Indonesia và bằng 55,9% của Philippines.

Thua xa các nước trong khu vực

Bởi trên thực tế, tính theo sức mua tương đương (PPP 2011), năng suất lao động (NSLĐ) của Việt Nam hiện nay vẫn rất thấp so với các nước trong khu vực, đáng chú ý là khoảng cách chênh lệch tuyệt đối vẫn tiếp tục gia tăng. Theo PPP 2011, NSLĐ của Việt Nam năm 2018 đạt 11.142 USD, chỉ bằng 7,3% mức năng suất của Singapore, 19% của Malaysia, 37% của Thái Lan, 44,8% của Indonesia và bằng 55,9% năng suất lao động của Philippines.

“Điều này cho thấy nền kinh tế Việt Nam sẽ phải đối mặt với thách thức rất lớn trong thời gian tới để có thể bắt kịp mức năng suất lao động của các nước”, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Nguyễn Bích Lâm nhận định.

Tương tự, báo cáo của Bộ LĐ-TB&XH cũng đưa ra đánh giá, NSLĐ của Việt Nam vẫn thua xa nhiều nước ASEAN. Tính theo so sánh năm 2010, năm 2018 năng suất lao động của Việt Nam bằng 1/30 lần Singapore, 29% năng suất lao động của Thái Lan, 13% năng suất lao động của Malaysia, 44% năng suất lao động của Philippines.

“Dù dùng thước đo nào đi chăng nữa thì NSLĐ của Việt Nam vẫn còn thấp xa so với các nước trong khu vực”, Đại diện Bộ LĐ-TB&XH nhận định. 

Trong đó, nếu xem xét theo từng ngành, thì nông - lâm nghiệp và thủy sản là ngành có NSLĐ thấp nhất trong các ngành kinh tế tại Việt Nam. Cụ thể, đến năm 2018 theo giá hiện hành thì NSLĐ khu vực này đạt 39,8 triệu đồng/lao động, chỉ bằng 38,9% NSLĐ của toàn nền kinh tế, bằng 30,4% NSLĐ của khu vực công nghiệp và xây dựng, bằng 33,7% khu vực dịch vụ… 

Trong khi đó, khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế về quy mô, nhưng NSLĐ của khu vực này chưa thể hiện rõ vai trò chủ chốt thúc đẩy tăng trưởng nhanh. Năm 2018, NSLĐ của khu vực công nghiệp và xây dựng theo giá hiện hành đạt 131 triệu đồng/lao động.

Tính theo giá so sánh, NSLĐ của khu vực công nghiệp và xây dựng năm 2018 tăng 4% so với năm trước, bình quân giai đoạn 2011-2018 tăng 3%/năm, trong đó NSLĐ riêng ngành công nghiệp năm 2018 tăng 4,5%, bình quân giai đoạn 2011-2018 tăng 3,1%, bình quân giai đoạn 2016-2018 tăng 1,83%/năm.

Như vậy, nếu không có những thay đổi mạnh mẽ mang tính bứt phá thì mục tiêu tăng NSLĐ ngành công nghiệp 5,5%/năm giai đoạn 2016-2020 khó hoàn thành. Trong khi ngành xây dựng hiện nay có NSLĐ khá thấp, năm 2018 NSLĐ ngành này chỉ tăng 2,88%, bình quân giai đoạn 2011-2018 tăng 2,63%, chỉ đạt 75,7 triệu đồng/lao động, bằng 74,1% mức NSLĐ chung.

Khu vực dịch vụ có mức NSLĐ theo giá hiện hành năm 2018 ước tính đạt 118,1 triệu đồng/lao động, gấp 1,2 lần NSLĐ chung. Tính theo giá so sánh, NSLĐ khu vực dịch vụ năm 2018 tăng thấp nhất kể từ năm 2013 trở về đây với 1,47% so với năm trước, tốc độ tăng NSLĐ bình quân giai đoạn 2011-2018 đạt 3,1%/năm.

Trong khu vực dịch vụ, ngành bán buôn, bán lẻ và ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống là những ngành chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực này nhưng có mức NSLĐ lần lượt là 82,3 triệu đồng/lao động và 76,1 triệu đồng/lao động, chỉ bằng 80,5% và 74,4% mức NSLĐ chung của nền kinh tế và ở mức rất thấp so với các nước trong khu vực.

Nhìn chung, NSLĐ khu vực công nghiệp, xây dựng và khu vực dịch vụ lớn hơn nhiều lần khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản nhưng do tốc độ tăng NSLĐ thấp hơn nên khoảng cách về NSLĐ giữa khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản với hai khu vực này ngày càng được thu hẹp. Điều này còn cho thấy các ngành công nghiệp và dịch vụ chưa được như kỳ vọng là những ngành kinh tế chủ chốt, động lực thúc đẩy tăng trưởng nhanh trong nền kinh tế.

“Nới rộng” khoảng cách doanh nghiệp nội và FDI 

Đặc biệt, thống kê Tổng cục Thống kê về năng suất lao động doanh nghiệp - yếu tố có ý nghĩa quyết định tới tăng trưởng bền vững của nền kinh tế cho thấy, NSLĐ chung của toàn bộ khu vực doanh nghiệp năm 2017 theo giá hiện hành đạt 298,7 triệu đồng/lao động, gấp 3,2 lần mức NSLĐ chung cả nước.

Trong đó, NSLĐ của doanh nghiệp Nhà nước đạt mức cao chủ yếu vẫn dựa vào ưu thế trong việc phân bổ nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực tài nguyên thiên nhiên. Doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 228,4 triệu đồng/lao động, gấp 2,5 lần mức NSLĐ chung của cả nước. Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 330,8 triệu đồng/lao động, gấp 3,5 lần.

NSLĐ của doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt thấp nhất. Mặt khác, khoảng cách về năng suất lao động của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với doanh nghiệp ngoài nhà nước đang ngày càng nới rộng. Chiếm tới 96,7% tổng số doanh nghiệp của cả nước nên NSLĐ của doanh nghiệp ngoài Nhà nước ở mức thấp đã ảnh hưởng nhiều đến NSLĐ chung của toàn bộ khu vực doanh nghiệp. 

“Năng suất lao động của khu vực doanh nghiệp nhà nước cao hơn và cách rất xa so với năng suất lao động của khu vực doanh nghiệp tư nhân. Nhưng việc năng suất lao động của khu vực doanh nghiệp nhà nước cao lại không nhờ vào hiệu quả hay ưu việt hơn mà nhờ những cơ chế ưu đãi về vốn, công nghệ, độc quyền thị trường, vì thế đầu ra của doanh nghiệp nhà nước có giá trị tốt hơn. Ngược lại với đó, khu vực doanh nghiệp tư nhân là khu vực sử dụng lực lượng lao động khổng lồ, lớn nhất của nền kinh tế nhưng năng suất lao động lại thấp nhất”, TS. Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) phân tích.

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến năng suất lao động của doanh nghiệp ngoài Nhà nước đạt thấp so với các loại hình doanh nghiệp còn lại do các doanh nghiệp ngoài Nhà nước phần lớn là doanh nghiệp có quy mô nhỏ nên gặp hạn chế trong việc nâng cao NSLĐ do khó tiếp cận và ứng dụng công nghệ vào sản xuất, tiếp cận tín dụng chính thức hạn chế, thiếu lao động có kỹ năng, khó tham gia và học hỏi từ chuỗi giá trị do các doanh nghiệp FDI dẫn dắt và không khai thác được hiệu quả kinh tế nhờ lợi thế về quy mô…

Thúc đẩy kinh tế tư nhân

Không những vậy, Việt Nam đang phải đối mặt với hàng loạt các yếu tố ảnh hưởng tới tăng năng suất lao động. "Quy mô nền kinh tế Việt Nam không lớn, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động tuy theo hướng tích cực nhưng còn chậm, máy móc, thiết bị và quy trình công nghệ còn lạc hậu, chất lượng nguồn nhân lực hạn chế... là những yếu tố khiến cho năng suất lao động của Việt Nam còn có khoảng cách so với các nước trong khu vực ASEAN", Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Nguyễn Bích Lâm đánh giá

Vì vậy, để tăng tốc phát triển, trở thành quốc gia thịnh vượng, Người đứng đầu Tổng cục Thống kê cho rằng, giải pháp hàng đầu là về thể chế, chính sách. Trong đó, Chính phủ sớm thành lập Ủy ban Năng suất quốc gia, thiết lập một cơ quan thường trực, chuyên sâu về năng suất lao động có nhiệm vụ phối hợp các động lực tăng năng suất quốc gia của Việt Nam. Xây dựng và thực hiện thành công Chiến lược Quốc gia về nâng cao năng suất lao động của Việt Nam với mục tiêu chung và cụ thể trong từng giai đoạn để năng suất lao động của Việt Nam bắt kịp các nước trong khu vực.

Trong khi đó, các chuyên gia đặc biệt nhấn mạnh tới việc nâng cao đào tạo nhân lực chất lượng cao để đi vào các lĩnh vực có giá trị cao hơn thay vì gia công sản phẩm cho các nước như hiện nay, đồng thời cải cách thể chế, tạo ra môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển.

Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, doanh nghiệp tư nhân ngày càng cạnh tranh gay gắt với doanh nghiệp FDI, khó tiếp cận nguồn lực về vốn, đất đai, tài nguyên... Do đó, khu vực doanh nghiệp tư nhân càng ngày càng thu hẹp quy mô, không dám đầu tư lớn để tăng năng suất, trong khi đáng lẽ đây phải là khu vực có năng suất lao động cao hơn.

Đồng tình với quan điểm của bà Phạm Chi Lan, PGS.TS Nguyễn Đức Thành cũng cho rằng, bản thân các doanh nghiệp tư nhân là những doanh nghiệp hấp thụ nhiều lao động không được mở rộng. "Chúng ta không có thị trường thì sẽ không mở rộng sản xuất được ở các ngành đó. Do đó, khâu phát triển thị trường của doanh nghiệp là quan trọng nhất để hấp thụ những lao động có sẵn, dư thừa hiện nay", ông Thành nhấn mạnh.

Bạn đang đọc bài viết Tăng năng suất lao động: “Chìa khoá” cho tăng trưởng và tránh nguy cơ tụt hậu tại chuyên mục Chính trị - Xã hội của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan@dddn.com.vn, hotline: (024) 3.5771239,