Mới đây nhất là thông tin về tình hình kinh doanh của Mobifone đi xuống, có thể không đạt được kế hoạch 47.000 tỷ đồng đã đề ra. Tuy nhiên, UB Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp chưa biết gì về thực trạng này, trong khi giữa tháng 11, Bộ TT&TT đã tiến hành bàn giao Mobifone về cho UB.

p/Giữa tháng 11, Bộ TT&TT đã tiến hành bàn giao Mobifone về cho Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Giữa tháng 11, Bộ TT&TT đã tiến hành bàn giao Mobifone về cho Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Xem lại thể chế

Còn với câu chuyện của Tcty Đường sắt Việt Nam, mới đây Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thể cũng yêu cầu nghiên cứu lại đề án tái cơ cấu đơn vị này. Như vậy, khó có thể nói rằng: mới có mấy tháng thì UB chưa thể nắm hết được 19 tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Nhưng ít nhất, khi dứt khỏi “bộ chủ quản” về với UB, thì tình hình kinh doanh, khả năng hoàn thành kế hoạch từ đầu năm 2018 phải được báo cáo để UB nắm rõ.
Không biết có phải vì tình hình này mà mới đây, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước Hồ Sỹ Hùng, đã có ý kiến cho rằng cần phải xem xét lại thể chế đối với các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Trong khi đó, Nghị định 131/2018 của Chính phủ đã quy định rất rõ nhiệm vụ và quyền hạn của UB Quản lý vốn nhà nước đối với các tập đoàn, tổng công ty được chuyển giao về.

Việc xem xét lại vấn đề thể chế hóa vai trò của tập đoàn kinh tế nhà nước như ý của ông Hùng có lẽ cũng cần… xem lại. Vì thực tế từ năm 1994, Thủ tướng đã quyết định thí điểm thành lập các “tập đoàn kinh doanh” và hiện thực hóa bằng các Tổng công ty 91. Với kỳ vọng trở thành các “quả đấm thép” của nền kinh tế, các tập đoàn kinh tế nhà nước đã được thành lập “đại trà”.

Mục tiêu các “quả đấm thép” bao gồm: Tập trung đầu tư và huy động các nguồn lực hình thành nhóm công ty có quy mô lớn trong các ngành, lĩnh vực then chốt, cần phát triển; giữ vai trò bảo đảm các cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân; ứng dụng công nghệ cao; tạo động lực phát triển cho các ngành, lĩnh vực khác và toàn bộ nền kinh tế. Hai mục tiêu khác cũng rất quan trọng là thúc đẩy liên kết trong chuỗi giá trị gia tăng, phát triển các thành phần kinh tế khác và tăng cường quản lý, giám sát có hiệu quả đối với vốn, tài sản nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp trong tập đoàn.

Tuy vậy, thực tế cho đến nay, những mục tiêu đặt ra cho các tập đoàn kinh tế nhà nước nói trên vẫn còn là một gam màu xám. Lý do đơn giản nhất là bởi vì các tập đoàn kinh tế nhà nước được thành lập dựa trên các tổng công ty có quy mô chưa lớn, quản lý yếu kém, quen được bao cấp bằng ưu đãi, độc quyền. Điểm then chốt nhất là nhân sự thì phần lớn được bổ nhiệm không phải dựa trên năng lực quản trị kinh doanh, yếu tố then chốt ảnh hưởng tới hiệu quả của các tập đoàn.

Hiệu quả là then chốt

Những “đại án” liên quan đến các tập đoàn, tổng công ty trong thời gian qua là minh chứng rõ nhất cho vấn đề này. Có lẽ cũng chính vì vậy mà hồi tháng 5-2018, Chính phủ trong một báo cáo gửi đến Quốc hội để phục vụ phiên giám sát tối cao về việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2011 - 2016 đã cho hay: Cả nước hiện còn hơn 500 doanh nghiệp nhà nước, dự kiến đến 2020 chỉ còn khoảng 150, chủ yếu là các công ty xổ số, công ích và ba tập đoàn Dầu khí, Điện lực và Viettel.

Trong khi đó, đoàn giám sát của Quốc hội trong đánh giá của mình đã nhìn nhận rằng: DNNN chưa thực sự phát huy được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế cũng như chưa thực hiện được nhiệm vụ dẫn dắt, thúc đẩy các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế khác phát triển, tạo động lực phát triển kinh 

Bởi vậy, đánh giá lại việc thực hiện thể chế tập đoàn kinh tế nhà nước là việc cần làm. Và ông Hồ Sỹ Hùng đã đúng khi đề xuất xem xét đến nghĩa vụ của DNNN thông qua việc dùng tỷ suất lợi nhuận để đánh giá.
Hội nghị Trung ương 5 mới đây đã ban hành Nghị quyết 12 về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN. Trong đó, quan điểm chỉ đạo là: “DNNN hoạt động theo cơ chế thị trường, lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chí đánh giá chủ yếu, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, cạnh tranh bình đẳng”.

Ông Vũ Hồng Thanh - Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội: Lợi dụng cổ phần hóa chiếm đất công

Các DNNN quản lý đất chưa chặt chẽ, sử dụng đất không hiệu quả, không đúng mục đích, bị lấn, chiếm, chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính về đất... Cụ thể, hình thức chuyển nhượng làm mất đất như dùng đất được Nhà nước cho thuê đem góp vốn liên doanh, hợp tác đầu tư, sau đó thực hiện thoái toàn bộ phần vốn góp để lách luật. Bởi, thực chất là chuyển nhượng đất. Do vậy, cần có quy định đấu giá quyền sử dụng đất, quyền thuê đất khi cổ phần hóa DNNN theo cơ chế thị trường, để chấm dứt những tổ chức, cá nhân lợi dụng cổ phần hóa, góp vốn nhằm chiếm đất công.

TS Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương: DNNN hoạt động theo nguyên tắc thị trường

Cần thống kê đánh giá các DNNN có tỷ suất lợi nhuận cao hay thấp, qua đó Nhà nước xem xét lại việc đầu tư. Chẳng hạn, với các DNNN có tỷ suất lợi nhuận thấp hạn chế đầu tư, những DNNN có tỷ suất lợi nhuận cao 20-30% sẽ tăng cường đầu tư để sau vài năm có những tập đoàn kinh tế lớn.

Thực tế này cho thấy vẫn còn khiếm khuyết trong việc tạo cơ chế cho DNNN hoạt động theo nguyên tắc thị trường. Vì thế, để tháo bỏ những ràng buộc giúp DNNN thực hiện quyền tự chủ kinh doanh, Nhà nước chỉ cần xác định những ngành nghề kinh doanh, còn làm thế nào để hội đồng quản trị và giám đốc tự quyết định.