Trong báo cáo tổng kết 30 năm thu hút FDI tại Việt Nam, bên cạnh việc ghi nhận những đóng góp của FDI đối với nền kinh tế, cũng đã thừa nhận những tồn tại. Một trong số đó phải kể đến việc chuyển giao công nghệ giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam chưa như kỳ vọng.

Sau đây, Báo Diễn đàn Doanh nghiệp chia sẻ 5 khuyến nghị cụ thể nhằm nâng cao hoạt động chuyển giao công nghệ tại Việt Nam và kinh nghiệm nhìn từ Thái Lan, của TS Nguyễn Hữu Xuyên, Viện Nghiên cứu sáng chế và Khai thác công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ.

Một là, tạo môi trường pháp lý thuận lợi hơn nữa cho hoạt động chuyển giao công nghệ.

Hiện nay, nhiều nước trong khu vực có tỷ lệ đóng góp của nhân tố năng suất tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 50%, như Thái Lan là 53%, Hàn Quốc là 51,5%, Trung Quốc là 52%, trong khi đó Việt Nam mới chỉ đạt khoảng 40%.

Hiện nay, nhiều nước trong khu vực có tỷ lệ đóng góp của nhân tố năng suất tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 50%, như Thái Lan là 53%, Hàn Quốc là 51,5%, Trung Quốc là 52%, trong khi đó Việt Nam mới chỉ đạt khoảng 40%.

Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động nhập công nghệ thông qua dự án FDI là một trong những hướng đi phù hợp để nâng cao trình độ, năng lực đổi mới công nghệ của Việt Nam trong thời gian tới.

Tuy nhiên, cần đảm bảo tuân thủ đúng các quy định của pháp luật hiện hành về chuyển giao công nghệ, đặc biệt là cơ chế bắt buộc đăng ký chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam. Đồng thời, tăng cường kiểm soát và xây dựng chiến lược nhập khẩu công nghệ phù hợp, nhằm hạn chế tình trạng chuyển giá, gian lận và tiếp nhận công nghệ không thân thiện với môi trường vào Việt Nam.

Hiện nay, trình độ, năng lực công nghệ và khả năng giải mã công nghệ của Việt Nam còn thấp so với Thái Lan, tỷ lệ nhóm ngành sử dụng công nghệ cao của Việt Nam chỉ đạt khoảng 20%, trong khi tỷ lệ này của Thái Lan là 31%, Singapore là 73%, Malaysia là 51%. Trong khi đó, tiêu chí để đạt trình độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá là trên 60%. Ngoài ra, tăng trưởng kinh tế Việt Nam hiện vẫn dựa vào thâm hụt vốn, lao động.

Nhiều nước trong khu vực có tỷ lệ đóng góp của nhân tố năng suất tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 50%, như Thái Lan là 53%, Hàn Quốc là 51,5%, Trung Quốc là 52%, trong khi đó Việt Nam mới chỉ đạt khoảng 40%.

Ngoài ra, theo báo cáo từ Diễn đàn Kinh tế Thế giới năm 2016, hiệu quả chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI của Việt Nam rất thấp và có xu hướng ngày càng bị tụt hậu so với các Quốc gia trong khu vực. Theo đó, Việt Nam đứng ở vị trí 103, Thái Lan vị trí 36, Indonesia đứng ở vị trí 39 và Malaysia xếp thứ 13.

Nguyên nhân của việc này đó là do hoạt động đầu tư cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn thấp, nền kinh tế Việt Nam cơ bản vẫn là nền kinh tế gia công, mặc dù Việt Nam đã có những bước tiến trong hoạt động khuyến khích nghiên cứu, triển khai, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ trong thời gian qua.

Trong thời gian tới, cần tạo điều kiện thuận lợi về mặt thủ tục, quy trình để hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận và sử dụng các chính sách ưu đãi thuế, tín dụng, đào tạo, hỗ trợ trực tiếp nhằm thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ. Đặc biệt, là chuyển giao công nghệ trong nước, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp nhận công nghệ để đầu tư, mở rộng sản xuất, hiện đài hoá dây chuyền công nghệ, từng bước nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.

Trong đó, có thể kể đến việc nâng mức hỗ trợ, tài trợ cho các dự án nghiên cứu và sản xuất thử nghiệp sản phẩm, nâng mức ưu đãi thuế nhập khẩu dây chuyền công nghệ, ưu đãi tiến dụng cho hoạt động chuyển giao công nghệ tại các Quỹ hỗ trợ phát triển, Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia.

Hai là, gắn hoạt động chuyển giao công nghệ với việc nâng cao năng lực công nghệ nhằm phụ vụ cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội và khoa học, công nghệ.

C

Chuyển giao công nghệ cần gắn với việc nâng cao trình độ, năng lực công nghệ của doanh nghiệp và năng lực nội sinh công nghệ quốc gia.

Chuyển giao công nghệ cần gắn với việc nâng cao trình độ, năng lực công nghệ của doanh nghiệp và năng lực nội sinh công nghệ quốc gia. Để thực hiện chuyển giao công nghệ thành công, những nỗ lực của doanh nghiệp là chưa đủ mà cần sự hỗ trợ từ Nhà nước trong quá trình tiếp nhận, đánh giá và lựa chọn công nghệ chuyển giao.

Theo đó, để làm được điều này cần có sự kết hợp giữa các cơ quan quản lý từ Trung ương đến địa phương trong việc hoạch định, tổ chức thực thi, kiểm soát các hình thức hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, đảm bảo chính sách được thông tin một cách công khai, đầy đủ đến các doanh nghiệp.

Việc hỗ trợ doanh nghiệp tiếp nhận công nghệ cần được thực hiện đồng bộ, tương thích và có lộ trình, phải phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế, mục tiêu phát triển khoa học và công nghệ trong từng giai đoạn. Do đó, ngoài việc đối chiếu với danh mục công nghệ khuyến khích, hạn chế và cấm chuyển giao, Việt Nam cần chú trọng vào việc dự báo xu hướng phát triển công nghệ. Đây là một trong những nhiệm vụ cần thiết trong điều kiện hiện nay của Việt Nam.

Qua đó, sẽ cung cấp các thông tin liên quan tới công nghệ, tầm ảnh hưởng của công nghệ đối với Quốc gia, ngành, doanh nghiệp. Đồng thời cung cấp thông tin liên quan tới các yếu tố duy trì công nghệ và đầu ra của công nghệ trong tương lai.

Từ đó giúp Việt Nam nhận ra được các điểm mạnh, điểm yếu, cũng như thấy được các cơ hội và các mối đe doạ trong hoạt động tiếp nhận, đổi mới công nghệ phụ vụ cho phát triển kinh tế, xã hội.

Còn tiếp....