“Xóm Ngư” là tên gọi của một cộng đồng dân cư sinh sống bên dải đất hẹp dọc một nhánh nhỏ của dòng sông Hiếu chảy qua địa bàn Xã Gio Mai (Gio Linh - Quảng Trị). Cái tên xóm có lẽ phát sinh từ nghề đánh cá được truyền qua nhiều đời nay.

Nằm lọt thỏm giữa vùng đất chuyên canh cây lúa, Xóm Ngư lại biệt lập với nghề biển. Mặc dù cách cửa biển khá xa nhưng mỗi lần đi qua đây vẫn nghe hương vị đặc trưng của biển, mằn mặn, thoang thoảng mùi mực cá còn sót lại trên mắt lưới trong khoang thuyền tỏa ra.

Tọa lạc trên khoảnh đất bé tí, số lượng nhân khẩu hạn chế nhưng đời sống không hề thấp. Nhìn bến thuyền tấp nập neo đậu, không khí tất bật hối hả mỗi buổi sáng đón người thân trở về từ biển mang theo hải sản tươi rói, tràn trề nhựa sống.

Nhưng, đó là chuyện của hơn 10 năm về trước, bây giờ tất cả giờ chỉ còn là hoài niệm. Xóm Ngư hầu như không còn bản sắc nghề biển như cái tên của nó. Thuyền lớn đi biển từ vài chục chiếc giờ còn lại một vài, trai tráng thanh niên rời quê vào Nam, qua xứ người kiếm sống, số còn lại đã có bằng cấp và chuyển nghề lên cạn.

Bến cá nhộn nhịp một thời giờ chỉ còn trơ trọi vài chiếc tàu trống trải

Bến cá nhộn nhịp một thời giờ chỉ còn trơ trọi vài chiếc tàu trống trải. Ảnh: Khắc Trà

Những gì còn lại là bến nước cứ đầy rồi lại vơi mỗi ngày đôi lần, lưa thưa vài chiếc xuồng nhỏ giăng lưới theo con nước kiếm đồng vào đồng ra. Lao động là những cặp vợ chồng già không đủ sức đi xa, nhưng con cá con tôm giờ cũng khó kiếm, đầy may rủi hên xui.

Trên chiếc xuồng nhôm pha gỗ nhỏ xíu chạy máy xăng Nhật, đôi vợ chồng già còm cõi xới tung đống lưới kiếm mấy con cá mòi, cá móm, đây là thành quả từ sáng tinh mơ đến trưa đứng bóng. Cụ bảo: “Giờ không nhiều người còn ra khơi vì ngư trường cạn kiệt, đi xa không đủ chi phí lại có khi gặp bất trắc. Thanh niên bỏ đi hết chỉ còn lại lớp già chúng tôi bám lấy khúc sông này kiếm năm ba chục nghìn đồng sống qua ngày”.

Vì đâu một Xóm Ngư có truyền thống, thịnh vượng một thời nay lụi tàn trong im ắng? Những ngư phủ kỳ cựu rành biển như lòng bàn tay đều biết rằng, thủy sản gần bờ đã kiệt cùng, muốn đi xa phải có tàu lớn, có nhân lực, có kỹ thuật… đó là điều kiện cho nghề biển hiện nay đã vượt quá tầm với của đa số ngư dân.

Không biết, những người có chức trách ở địa phương có thấy được điều này và xem đó là chỉ dấu không mấy tốt lành với một tỉnh có 75km đường biển, khai thác thủy sản được xem là một thế mạnh!

Khan hiếm nguồn lợi thủy sản dẫn đến cái chết không kèn không trống của nhiều làng biển không phải chỉ xuất hiện ở Quảng Trị, mà đó là vấn nạn đau đầu của ngư nghiệp Việt Nam mấy chục năm nay.

Tàu lớn

Tàu lớn "chết" dần, chỉ còn lại xuồng bé với lực lượng lao động ngoài sáu mươi... Ảnh: Khắc Trà

Đó là kết quả của một thời gian dài khai thác vô tội vạ, bất chấp thông lệ quốc tế về kích cỡ mắt lưới, chủng loại, phương tiện, cách thức đánh bắt. Ví dụ, luật Mỹ yêu cầu ngư dân đăng ký chủng loại đánh bắt; thủy sản mang trứng thì không được bắt; hay với người câu cá chỉ được bắt cá khi lưỡi câu móc vào miệng, nếu móc vào những nơi khác buộc phải thả…

Nhà nước không phải không thấy thực trạng này, minh chứng đầu tiên là Luật Thủy sản vừa có hiệu lực từ ngày 1/1/2019, nhưng không thể nói rằng chúng ta đã kịp thời khi mà rất rất nhiều làng biển khắp cả nước đang ngắc ngoải.

Dự án “tàu 67” là chủ trương đúng khi “nhà nước cùng ngư dân ra khơi”. Nhưng, hiệu quả chưa thấy đâu mà những câu chuyện xót ruột cứ nổi lên. Vì sao những con tàu sắt hiện đại, trị giá hàng chục tỷ đồng bị làm “dỏm”? Ai đang đùa giỡn với tính mạng ngư dân trên biển dữ?

Cảng cá Cửa Sót ở Thạch Hà (Hà Tĩnh) là một ví dụ, những con tàu hiện đại im lìm nằm bờ “đi chuyến nào lỗ chuyến đó” là tâm sự đắng lòng của một ngư dân; những trường hợp khác không thể ra khơi vì không thể tìm được lao động.

Món nợ hàng chục tỷ đồng, lãi mẹ đẻ lãi con, nợ chồng nợ. Không có tàu lớn làng biển cũng chết, có tàu lớn rồi lại càng chết nhanh hơn!

Đại diện Chi cục Thủy sản Hà Tĩnh nói rằng: “Phạm vi đánh bắt của tàu vỏ thép từ 60 hải lý cách bờ, trong khi ngoài 100 hải lý thuộc vùng biển khác nên thực tế tàu 67 bị hạn chế trong vòng 40 hải lý”. Phải chăng, người ta không tính toán điều này trước khi đóng những con tàu quá cỡ?

Nghề biển ngày một khó không chỉ vì chừng đó lý do bề nổi, sâu xa hơn là những ách tắc chằng chịt từ thể chế, cách quản lý và góc nhìn của những nơi hoạch định chính sách.

Nghề biển ngày một khó không chỉ là cái khó riêng của tầng lớp ngư dân đang rục rịch chuyển đồi nghề nghiệp: Quan trọng hơn là “Kinh tế biển” - một chiến lược lớn của nước ta, nhưng dù lớn tới mức nào cũng phải xuất phát từ thân phận ngư phủ và những làng biển đang “khát” thủy sản hơn bao giờ hết.

Bạn đang đọc bài viết Nỗi buồn nghề biển! tại chuyên mục Tâm điểm của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan@dddn.com.vn, hotline: (024) 3.5771239,