Sau Quyết định số 79/QĐ-TTg của Thủ tướng về việc ban hành kế hoạch hành động quốc gia phát triển ngành tôm Việt Nam, ngành đặt kỳ vọng đến năm 2025 giá trị xuất khẩu đạt 10 tỷ USD, trong đó 8,4 tỷ USD là tôm thẻ và tôm sú. 

Năm 2018 ngành tôm đạt sản lượng 760.000 tấn, trong đó có gần 300.000 tấn tôm sú, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 3,6 tỷ USD, đây là sản lượng mà không nước nào đạt được

Năm 2018 ngành tôm đạt sản lượng mà không nước nào đạt được 760.000 tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 3,6 tỷ USD.

"Năm 2018 ngành tôm đạt sản lượng 760.000 tấn, trong đó có gần 300.000 tấn tôm sú, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 3,6 tỷ USD, đây là sản lượng mà không nước nào đạt được", ông Trần Đình Luân, Phó tổng cục trưởng Tổng Cục Thuỷ sản (Bộ NN&PTNT) nhận định. 

Tuy nhiên, những thách thức lớn về biến đổi khí hậu, đầu tư về khoa học kỹ thuật cao đang cản trở sự phát triển của ngành. Đặc biệt, sự hạn chế tham gia của các doanh nghiệp tư nhân khiến 70 – 80% diện tích ngành sản xuất tôm còn nhỏ lẻ, thực trạng này dẫn đến khó khăn trong hội nhập và đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc.

Thiếu "giấy thông hành" ra quốc tế

Theo đó, ông Lê Văn Quang, Chủ tịch Tập đoàn Thuỷ sản Minh Phú nhận định, điểm nghẽn lớn nhất ngành tôm là sản xuất nhỏ lẻ. 

"Khi sản xuất nhỏ lẻ thì không truy suất được nguồn gốc, dẫn tới không có chứng nhận quốc tế khiến chúng ta rất khó bán hàng. "Giấy thông hành" bán tôm ra thị trường quốc tế và các nước lớn là phải có chứng nhận quốc tế, mỗi thị trường có những chứng  nhận quốc tế khác nhau. Người dân sản xuất nhỏ lẻ không thể nào có được những giấy chứng nhận đó", ông Quang nói.

Ông Lê Văn Quang, Chủ tịch Tập đoàn Minh Phú kiến nghị Chính phủ là các doanh nghiệp xã hội không chịu sự chi phối của Luật chứng khoán.

Ông Lê Văn Quang, Chủ tịch Tập đoàn Minh Phú kiến nghị là các doanh nghiệp xã hội không chịu sự chi phối của Luật chứng khoán.

Chủ tịch công ty Minh Phú cho hay, để giải quyết bài toán liên kết chuỗi nuôi tôm, doanh nghiệp này đã nhiều năm đi tìm lời giải: "Đầu tiên là mua đất, thuê đất để nuôi tôm nhưng không được, sau đó thành lập công ty cổ phần để người nông dân góp đất nuôi tôm cũng không được". 

Sau đó, Minh Phú đi đến giải pháp thành lập công ty cổ phần xã hội, là một mô hình "có thể thực hiện tốt nhất". Theo đó, tất cả những người nuôi tôm sẽ góp đất, nuôi và bán sản phẩm trên chính mảnh đất của mình. Như vậy một hộ nuôi tôm coi như ao nuôi tôm của một doanh nghiệp lớn và vấn đề truy suất nguồn gốc để cấp giấy chứng nhận quốc tế đã "có lời giải".

Tuy nhiên, theo ông, doanh nghiệp xã hội lại vướng quy định của Luật chứng khoán, vì các công ty cổ phần từ 100 cổ đông trở lên, vốn điều lệ trên 10 tỷ phải hoạt động theo Luật chứng khoán.

Trong khi đó, doanh nghiệp xã hội không bắt buộc người dân đóng cổ phần mà họ tự nguyện, khi làm ăn tốt họ tham gia, khi không tốt họ ra đi. Điều chỉnh bằng Luật chứng khoán thì "mỗi lần doanh nghiệp vào, ra" lại chờ xin Uỷ ban chứng khoán Nhà nước, nhanh nhất 6 tháng đến một năm.

"Chúng tôi kiến nghị Chính phủ là các doanh nghiệp xã hội không chịu sự chi phối của Luật chứng khoán", ông Quang nhấn mạnh.

Tái khởi động bảo hiểm nuôi tôm

Đặc biệt, Chủ tịch Tập đoàn Minh Phú cho biết thêm, "không sản phẩm nào thu hoạch nhanh bằng nuôi tôm, chỉ 2, 3 tháng đã có lợi nhuận 1 - 1, nhưng điểm nghẽn là rất khó huy động đất để nuôi tôm, nguyên liệu cho các nhà máy chỉ đáp ứng 30 - 50%, nhiều nhà máy phải đóng cửa do thiếu nguyên liệu. Tình trạng này đẩy giá thành lên cao gấp 2, 3 lần".

"Nếu đủ nguyên liệu, nguồn vốn thì chỉ thời gian ngắn sẽ đạt mục tiêu Chính phủ đưa ra về phát triển ngành tôm. Minh Phú là đơn vị sản xuất tôm lớn, chúng tôi thấy rằng vấn đề bức xúc nhất là liên kết doanh nghiệp xã hội và bảo hiểm nông nghiệp", ông Quang nói.

Bởi theo ông Quang cho biết, người nông dân hiện đang phải vay vốn mức lãi suất 30-50%/năm từ nguồn vốn “tín dụng đen” nhưng vẫn có lời.

Chủ tịch Tập đoàn Minh Phú cũng cho rằng, thực ra trong những năm qua, những công ty bảo hiểm quốc tế đến gặp và đề nghị bán bảo hiểm tôm nuôi cho Minh Phú rất nhiều. Tuy nhiên, trước khi đồng ý bảo hiểm, họ vào đánh giá, khảo sát quy trình nuôi của mình rất nghiêm ngặt, và doanh nghiệp, người nuôi phải chứng minh được tỉ lệ nuôi thành công ở mức 70 -80%. Dù đã triển khai thành công nhưng thời điểm đó để chứng minh tỷ lệ thành công lại là việc khác nên chưa thể mua bảo hiểm từ nước ngoài được.

Từ năm 2016, ông Phú cho biết việc xây dựng quy trình nuôi tôm mới, mật độ thấp, vừa sức tải môi trường kết hợp con giống kháng bệnh… thì việc mua bảo hiểm không còn khó khăn nữa. Khi chấp nhận mua bảo hiểm thì phải chịu phí rất cao. Do đó đến nay, vấn đề bảo hiểm con tôm vẫn còn bàn cãi và chưa đưa ra được chính sách hợp lý cho cả doanh nghiệp và người nuôi. 

Có cùng quan điểm, ông Nguyễn Văn Nhiệm, Chủ tịch hiệp hội tôm Mỹ Thanh, Sóc Trăng cho rằng, các nhà hoạch định chính sách đã quá nóng vội, các chương trình bảo hiểm nuôi tôm còn nhiều kẻ hở nên bị một số đối tượng trục lợi nhiều.

Do đó, cách đây mấy năm, khi thí điểm thực hiện bảo hiểm nuôi tôm, các đơn vị bảo hiểm đã bị thiệt hại nhiều, trong khi đó tiền bảo hiểm lại không tới được người nuôi tôm. Sau đó, chương trình này cũng không thực hiện nữa khiến người nông dân đã khó càng khó khăn hơn.  

“Do đó, cần tái khởi động chương trình bảo hiểm cho nuôi tôm. Chúng tôi sẵn sàng để bảo hiểm có lời, để các ngân hàng rót vốn cho người nuôi tôm”, ông Quang nhấn mạnh.

Bạn đang đọc bài viết Người nuôi tôm phải vay vốn "tín dụng đen" lãi suất 30 - 50% tại chuyên mục Chính trị - Xã hội của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan@dddn.com.vn, hotline: (024) 3.5771239,