Việc đào tạo nhân tài

Có thể thấy, giáo dục - một trong những lĩnh vực đang phải chấp nhận sự thờ ơ của những nhân tài đất nước. Sự thờ ơ đó diễn ra từ trong “thời trứng nước”, tức là trong những kỳ thi tuyển sinh đại học ngành Sư phạm của nước ta trong thời gian gần đây.

Việc học sinh cấp 3 từ chối nộp hồ sơ vào các Trường Sư phạm và các Trường Cao đẳng Sư phạm ở địa phương chấp nhận điểm chuẩn đầu vào 3 môn là 10 điểm. Thì cũng đã đủ cho thấy sức hấp dẫn của môi trường Sư phạm không còn nữa.

Bên cạnh đó là chuyện về “phong trào du học” của người Việt. Nhiều người đặt câu hỏi: Việt Nam còn nghèo, tại sao việc đổ tiền cho con cái du học lại “khủng” như vậy – mỗi năm 3-4 tỉ USD và tính riêng ở Mỹ thì số sinh viên – du học sinh Việt Nam đứng thứ 6, đóng góp hơn 880 triệu USD cho nền kinh tế Mỹ? Đây là điều bất hợp lý đối với một đất nước còn nghèo, hay là xu thế tất yếu của thời kỳ hội nhập?

Thực tế, các quốc gia phát triển đều muốn mở rộng “thị phần” giáo dục bằng cách thu hút sinh viên ngoại quốc. Không chỉ vì mục tiêu tài chính, đó còn là cách tìm kiếm nhân tài bổ sung cho lực lượng lao động của họ. Kết quả là quốc gia nào có nhiều sinh viên du học thì ngoại tệ bị mất đi và có thể còn mất đi những tài năng, nguồn lực đầu tư suốt 12 năm giáo dục phổ thông cho những sinh viên này.

Trong khi, Việt Nam có một số trường Đại học tốt và học trong nước có nhiều lợi thế như chi phí ăn ở, đi lại, học phí thấp… nhưng chỉ có vậy chưa đủ hấp dẫn người học. Phần lớn các trường chưa làm tốt, ảnh hưởng đến chất lượng chung. Một khi chương trình đào tạo còn những nội dung viển vông, nặng về lý luận, cách giảng dạy thiếu sinh động… sẽ làm sinh viên nhàm chán…

Việc này kéo theo một hệ lụy, tình trạng kỹ sư, cử nhân và thậm chí là tiến sĩ ra trường nhưng không đáp ứng được yêu cầu công việc hiện nay không phải là chuyện hiếm và là thực trạng có thật ở nước ta. Một đất nước có đội ngũ tiến sĩ, kỹ sư, cử nhân… hùng hậu, nhưng lúc nào cũng trong tình trạng thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, thiếu người làm được việc gây ra tình trạng lãng phí rất lớn.

Chính vì thế, đã có lúc chúng ta đưa ra bàn câu chuyện “xuất khẩu chất xám”, để đội ngũ những người “tài” bao gồm các giáo sư, tiến sĩ ra nước ngoài làm thuê, giảng dạy. Thế mà, bàn xong rồi để đó, chuyện “nổi” lên một hồi rồi lại “lắng” xuống.

Nhìn rộng ra một chút, vì sao nước Đức là một trong những nước nghèo nhất thế giới sau thảm bại trong Chiến tranh Thế giới 2, cả Nhật cũng vậy nhưng họ quật khởi rất nhanh, xây dựng quốc gia thịnh vượng rất nhanh chóng? Góp phần vào sự quật khởi ấy ắt hẳn có vai trò không nhỏ của ngành giáo dục.

GS.TS Nguyễn Vân Nam chia sẻ: “Tôi qua Đức học và tôi không tốn một đồng nào, nhà nước tập trung đào tạo cho học hết trường này đến trường khác, làm hết thạc sĩ đến tiến sĩ rồi trở thành giáo sư. Rồi sau đó, tôi trở về Việt Nam sống, làm việc và không ai thắc mắc về điều đó. Khác biệt với mình là họ có nội lực và biết khơi dậy nội lực trong mỗi người công dân”.

Một vấn đề nữa của ngành giáo dục, đó là những thầy giáo, cô giáo công tác trong ngành sau một thời gian cũng dần không còn tha thiết với nghề giáo. Trong đó, câu chuyện thầy giáo xin ra khỏi biên chế sau 16 năm ở trường PTDT Nội trú huyện Bình Liêu (Quảng Ninh) thì lại là một vấn đề khác.

Việc dùng nhân tài       

Nguyên nhân nào dẫn tới tình trạng: Có chuyện nhiều người làm việc trong cơ quan nhà nước (như câu chuyện thầy giáo xin ra khỏi biên chế sau 16 năm), hoặc có không ít người được đi học bằng tiền ngân sách sau đó lại không về phục vụ cơ quan, đơn vị đã “nuôi” mình. Họ sẵn sàng bỏ tất cả để tìm đến vùng đất mới.

Câu trả lời dễ thấy nhất là khoảng cách giữa đào tạo, sử dụng và chế độ đãi ngộ trong nước không tương xứng. Nhất là, việc cất nhắc, bổ nhiệm vẫn dựa vào các yếu tố “quan hệ, tiền tệ” thì chắc chắn sẽ là lực cản rất lớn đối với việc cải thiện môi trường làm việc. Tư duy bổ nhiệm cán bộ theo kiểu “sống lâu lên lão làng” cũng là một “điểm trừ” trong thu hút nhân tài vào cơ quan Nhà nước.

Cơ chế tuyển dụng chưa minh bạch là lý do khiến nhiều người được đào tạo bài bản ở nước ngoài, nếu có về Việt Nam thì cũng tìm cách làm việc cho các công ty nước ngoài hoặc các tổ chức phi chính phủ.

Liên quan đến vấn đề này, Chủ tịch Đà Nẵng Huỳnh Đức Thơ nói rất đúng rằng: “Những người trẻ từ kiến thức đến tâm hồn, sắc sảo. Một động tác có sự bất công, thiên vị, không minh bạch thì lập tức môi trường làm việc sẽ bị vẩn đục ngay…. Nhiều khi không cần tiền nhiều, không cần vị trí cao nhưng các bạn cần minh bạch. Tôi cho rằng môi trường minh bạch thì các bạn sẽ vui vẻ, dù rằng các bạn suốt đời làm ở vị trí chuyên viên chính”.

Có thể thấy, mọi kết quả, thành quả của giáo dục là phải làm sao để mỗi người có cơ hội để trở thành một con người tự do có phẩm giá – theo ý người ta muốn. Và cũng có lẽ vì cái “lồng quy chế” đã kìm hãm “chiếc quần đùi” trên giảng đường đại học của Việt Nam. Những quy định thiếu thực tế và cứng nhắc đã trói chân tay hoặc đẩy những nhân tài này đi khỏi chính đất nước của họ, nơi “chôn nhau cắt rốn”.

Hiện nay, vẫn chưa có một con số thống kê chính thức nào về những ngôi sao Việt Nam tỏa sáng trên bầu trời nước bạn, thành danh và mang lại niềm tự hào cho quốc gia mà những công dân Việt Nam tới sinh sống và học tập. Những cái tên như Ngô Bảo Châu, Võ Đình Tuấn, Chu Hoàng Long, Đàm Thanh Sơn, Nguyễn Tường Khang, Nguyễn Thục Quyên… vẫn đang ngày đêm cống hiến cho nước Mỹ, Đức, Úc, Pháp…

Thực tế đáng buồn trên cho thấy bất cập còn quá nhiều và dư luận kỳ vọng vào một năm 2019 khởi sắc của ngành giáo dục, trong đó bản thân ngành phải triệt để giải được bài toán “đào tạo nhân tài” cho quốc gia. Đồng thời, cả hệ thống chính trị cũng phải chung tay xây dựng, biết cách “sử dụng nhân tài”. Từ đó mới thấy rõ được những đóng góp của ngành giáo dục và nguồn lực nội sinh của dân tộc trong tiến trình phát chung của đất nước.

Bạn đang đọc bài viết Ngành giáo dục loay hoay bài toán “đào tạo nhân tài và giữ nhân tài” tại chuyên mục Tâm điểm của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan@dddn.com.vn, hotline: (024) 3.5771239,