Ngân hàng VN: Uy tín giảm sút, cải cách khó khăn

(DĐDN) Ngày 13/10/2012, Công ty Cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam (VietNam Report) đã công bố báo cáo nghiên cứu thường kỳ Policy Debate số 03 và báo cáo ngành ngân hàng năm 2012, với chủ đề “Ngành ngân hàng Việt Nam: uy tín giảm sút trên truyền thông và những cải cách khó khăn”. Nghiên cứu được tiến hành trong khuôn khổ các hoạt động nghiên cứu chuẩn bị cho việc công bố Top 1000 doanh nghiệp nộp thuế lớn nhất Việt Nam (V1000) diễn ra tới đây.

Nghiên cứu được tiến hành dựa trên khảo sát của VietNam Report về nhận định của cộng đồng các doanh nghiệp lớn nhất và hoạt động kinh doanh tốt nhất Việt Nam, bao gồm Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam (VNR500), Top 1000 doanh nghiệp nộp thuế lớn nhất Việt Nam (V1000) và Top 500 doanh nghiệp tăng trưởng nhanh nhất Việt Nam (FAST500) đối với thực trạng hoạt động của ngành ngân hàng và những khó khăn trong cải cách ngành ngân hàng. Nhóm nghiên cứu nhận được trên 300 phiếu trả lời từ cộng đồng doanh nghiệp.

Đồng thời, nghiên cứu cũng áp dụng việc phân tích lượng hóa nội dung truyền thông (Media Analysis) nhằm đánh giá hình ảnh, uy tín của ngành ngân hàng nói chung, cũng như từng ngân hàng nói riêng. Phương pháp nghiên cứu phân tích truyền thông để đánh giá hình ảnh, uy tín của các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp và ngân hàng dựa trên học thuyết “Agender Setting” về sự ảnh hưởng, tác động của truyền thông đại chúng đến cộng đồng và xã hội

được 2 giáo sư Maxwell McCombs và Donald L. Shaw chính thức công bố vào năm 1968 và được Tập đoàn Media Tenor International (Thụy Sỹ) hiện thực hóa và áp dụng.

Dựa trên phương pháp phân tích nội dung truyền thông này, VietNam Report đã tiến hành mã hóa (coding) và phân tích các bài báo viết về ngành ngân hàng được đăng tải trên 5 tờ báo Thời báo kinh tế Việt Nam, Báo Đầu tư, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, báo Vietnamnews và Báo Vnexpress trong thời gian từ tháng 01 đến tháng 8 năm 2012. Tổng số có 4381 bản ghi (tương ứng 4381 coding units) được đánh giá theo luật 5 dòng (5 line rules) về các khía cạnh hoạt động của các ngân hàng từ sản phẩm, kết quả kinh doanh, thị trường ... tới các hoạt động, hình ảnh và uy tín lãnh đạo của các ngân hàng.

Các kết quả chính thu được từ nghiên cứu này bao gồm:

1. Năm 2012 là một năm kinh doanh khó khăn đối của ngành ngân hàng

Cho tới hết Quý 2, nhiều ngân hàng chỉ đạt được chưa đầy 20-30% chỉ tiêu lợi nhuận cho cả năm. Các ngân hàng khác dù đã đạt được 50% chỉ tiêu cũng xem xét điều chỉnh chỉ tiêu lợi nhuận cả năm trong tháng 7 do đánh giá tình hình kinh tế biến động không thuận lợi và không nhiều khả năng tăng tín dụng cho tới hết năm. Rất nhiều ngân hàng lợi nhuận trong nửa năm 2012 thấp hơn cùng kỳ năm trước đó.

2. Khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp lớn sụt giảm

Theo khảo sát của Vietnam Report, 44% các DN lớn đã khẳng định họ không tiếp cận được dòng vốn như trong năm 2011. Trong khi đó, vẫn có 39% số DN vay được nhiều vốn hơn trước.
Hình 1: Biến động vốn vay của DN trong tổng vốn kinh doanh (đơn vị:%)

Nguồn: Kết quả khảo sát doanh nghiệp, Vietnam Report thực hiện.

3. Vẫn có sự nhìn nhận doanh nghiệp nhà nước vẫn được ưu đãi trong tiếp cận tín dụng

DN Nhà nước được đa số DN nhận định là nhận được ưu đãi tín dụng lớn nhất từ ngân hàng. Theo sau là các DN có tốc độ tăng trưởng cao và các DN có doanh thu lớn nhất. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng đây chỉ là quan điểm của các doanh nghiệp được khảo sát.

Hình 2: Loại hình DN đang được ngân hàng ưu đãi tín dụng (đơn vị: % trên tổng số các ý kiến thu thập)
Nguồn: Kết quả khảo sát doanh nghiệp, Vietnam Report thực hiện.

4. Hình ảnh của ngành NH Việt Nam trên truyền thông đang giảm sút trong năm 2012

Tỷ trọng các bài viết tiêu cực tăng lên trong 8 tháng 2012 trong khi các bài viết tích cực giảm mạnh (hình 3). Cùng với việc phát hiện ra những khoản nợ xấu cao, nhiều ngân hàng còn gặp những vấn đề về pháp luật được thể hiện trên các phương tiện truyền thông, do vậy gây ảnh hưởng xấu tới uy tín của ngành ngân hàng trên truyền thông.
Hình 3: Biên độ xuất hiện thông tin (Tiêu cực v.s Tích cực) của ngành NH trong 8 tháng đầu năm 2012 (đơn vị: % trên tổng số coding units)

Nguồn: Kết quả phân tích 4.381 coding units từ 5 đầu báo, Vietnam Report

5. Doanh nghiệp và dư luận lo lắng về lãi suất của khoản cho vay

Một số bài báo nhắc tới việc tăng trưởng tín dụng quá mức, lãi suất tăng cao đã dẫn đến hàng loạt những tác dụng phụ, làm mất an toàn hệ thống tài chính, và gia tăng lạm phát. Tất nhiên tất cả những hậu quả này không hẳn hoàn toàn là do lỗi của các ngân hàng, nhưng chỉ cần báo chí “nghi ngờ” như vậy, rõ ràng các bài viết sẽ tạo ra một góc nhìn tiêu cực hơn rất nhiều cho các ngân hàng. Đặc biệt trong năm vừa qua, những bài báo tiêu cực về ngân hàng xuất hiện với mật độ dày hơn trên truyền thông trong nước.

Hình 4: TOP 5 chủ đề hình ảnh về NHTM Việt Nam xuất hiện nhiều nhất trên truyền thông trong 8 tháng 2012 (đơn vị: coding units)

Nguồn: Kết quả phân tích 4.381 coding units từ 5 đầu báo, Vietnam Report

Các gói cho vay cùng với các gói dịch vụ khác là những chủ đề xuất hiện nhiều nhất trên truyền thông (hình 4). Cùng với đó là thông tin về các vụ sáp nhập và NH phát hành trái phiếu. Lãi suất cho vay cao trong các sản phẩm tín dụng, kết quả kinh doanh không khả quan và đánh giá tín nhiệm thấp trên thị trường trái phiếu quốc tế là những chủ đề tiêu cực về các ngân hàng

6. Quan hệ khách hàng và ngân hàng đang tiếp tục căng thẳng

Sau khi các NH công bố kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2012, báo chí đưa nhiều tin bài về các NH không đạt được chỉ tiêu nửa năm. Vấn đề lãi suất cao đã được cải thiện kể từ tháng 5. Tuy nhiên, quan hệ khách hàng căng thẳng hơn trong Quý 3 khi dòng vốn tín dụng vẫn đóng băng.
Hình 5: Biến động lượng tin tiêu cực về Sản phẩm/ Kết quả KD/ Quan hệ khách hàng của NHTM Việt Nam trong 8 tháng năm 2012 (đơn vị: coding units)
Nguồn: Kết quả phân tích 4.381 coding units từ 5 đầu báo, Vietnam Report

Tóm lại, Việt Nam đang đứng trước thử thách khó khăn nhằm tái cơ cấu hoạt động của ngành ngân hàng. Trong điều kiện hình ảnh, uy tín của ngân hàng trong cộng đồng doanh nghiệp và công chúng ở mức thấp như hiện nay, những hoạt động cải cách và tái cơ cấu ngành ngân hàng cần rất thận trọng để tránh những đổ vỡ mang tính dây chuyền. Cần có những giải pháp căn cơ để duy trì và cải thiện lòng tin của công chúng và doanh nghiệp đối với hệ thống ngân hàng.

Một số giải pháp có thể tham khảo bao gồm: Kiểm soát tốt các vấn đề gặp phải và truyền đạt thông tin hiệu quả; Chấp nhận sai lầm và đề xuất những giải pháp thay đổi; Lãnh đạo ngân hàng tăng cường xuất hiện và phát biểu trước công chúng; Coi công chúng như một thị trường; Coi truyền thông là quan trọng.
Nhìn chung, các ngân hàng Việt Nam cũng gặp phải vấn đề tương tự những ngân hàng ở nước ngoài: Minh bạch hóa hoạt động và tăng cường tiếp xúc với giới truyền thông để giúp công chúng hiểu rõ hơn những vấn đề mà họ quan tâm. Để làm được điều này, các ngân hàng không chỉ phải thực sự “trong sạch”, mà còn cần phải có một hệ thống truyền thông hiệu quả để ứng phó với bất cứ sự cố nào có thể xảy ra. Đó là những bài học rất có ý nghĩa đối với hệ thống NH tại Việt Nam.

Để có cái nhìn đa chiều hơn về nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành ngân hàng nói riêng, tại Diễn đàn V1000 năm 2012, lãnh đạo cộng đồng các doanh nghiệp lớn tại Việt Nam sẽ thảo luận và đưa ra những chia sẻ từng bước tháo gỡ những khó khăn, đặc biệt là trong giai đoạn hậu khủng hoảng của nền kinh tế hiện nay. Diễn đàn doanh nghiệp V1000- Top 1000 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập doanh doanh lớn nhất Việt Nam sẽ diễn ra vào ngày 30/11 năm 2012 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, TP.Hà Nội.

Để biết thêm chi tiết xin vui lòng truy cập: www.v1000.vn
Vietnam Report


Mời các bạn tham gia vào group Diễn đàn Doanh nghiệp để thảo luận và cập nhật tin tức cùng cơ hội nhận quà tặng hàng tháng.
Bạn đang đọc bài viết Ngân hàng VN: Uy tín giảm sút, cải cách khó khăn tại chuyên mục Điểm nhấn của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan@dddn.com.vn, hotline: (024) 3.5771239,
Từ khóa
Bình luận
Bạn còn /500 ký tự
Xếp theo: Thời gian | Số người thích
 

Để Việt Nam "hấp thụ" tốt hơn lợi ích từ EVFTA và EVIPA

Sau hơn một năm thực thi, CPTPP đã có những hiệu quả đối với nền kinh tế Việt Nam, kinh nghiệm từ hiệp định này cũng là bài học để Việt Nam hấp thụ tốt hơn lợi ích từ EVFTA, EVIPA và những FTA khác.