Khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, Đảng ta khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”. Trong đó có tư tưởng của Người về chủ nghĩa xã hội và xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần ở thời kỳ quá độ đã soi sáng đường lối xây dựng và phát triển kinh tế trong sự nghiệp đổi mới.

Bác Hồ thăm Xưởng Cơ khí (nay là Công ty CP Cơ khí Gang thép Thái Nguyên) ngày 01-01-1964

Bác Hồ thăm Xưởng Cơ khí (nay là Công ty CP Cơ khí Gang thép Thái Nguyên) ngày 01/01/1964

Xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần

Trong đường lối kháng chiến, Hồ Chí Minh chủ trương “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc” - một chủ trương thể hiện sinh động sự kết hợp hai giai đoạn của cách mạng VN trong kháng chiến. Cuối cuộc kháng chiến (1953) Hồ Chí Minh viết tác phẩm Thường thức chính trị. Trong tác phẩm này Hồ Chí Minh chỉ ra 6 thành phần kinh tế ở nước ta (vùng tự do): Một là, kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô. Hai là, kinh tế quốc doanh, có tính chất chủ nghĩa xã hội. Ba là, các hợp tác xã tiêu thụ và hợp tác xã mua bán, có tính chất nửa chủ nghĩa xã hội. Các hội đổi công ở nông thôn, cũng là một loại hợp tác xã. Bốn là, kinh tế cá nhân của nông dân và của thủ công nghệ, họ thường tự túc ít có gì bán và cũng ít khi mua gì. Đó là một thứ kinh tế lạc hậu. Năm là, kinh tế tư bản tư nhân. Họ bóc lột công nhân, nhưng đồng thời họ cũng góp phần vào xây dựng kinh tế. Sáu là, kinh tế tư bản quốc gia là Nhà nước hùn vốn với tư nhân để kinh doanh và do Nhà nước lãnh đạo. Trong loại này tư bản của tư nhân là chủ nghĩa tư bản. Tư bản của Nhà nước là chủ nghĩa xã hội.

Để xây dựng và phát triển nền kinh tế có nhiều thành phần như trên, Hồ Chí Minh đưa ra chính sách kinh tế của Đảng và Chính phủ gồm bốn điểm mấu chốt:

Một là, công tư đều lợi. Kinh tế quốc doanh là công. Nó là nền tảng và sức lãnh đạo của kinh tế dân chủ mới. Cho nên chúng ta phải ra sức phát triển nó và nhân dân ta phải ủng hộ nó. Đối với những người phá hoại nó, trộm cắp của công, khai gian lậu thuế thì phải trừng trị. Tư là những nhà tư bản dân tộc và kinh tế cá nhân của nông dân và thủ công nghệ. Đó cũng là lực lượng cần thiết cho cuộc xây dựng kinh tế nước nhà. Cho nên Chính phủ cần giúp họ phát triển. Nhưng họ phải phục tùng sự lãnh đạo của kinh tế quốc gia, phải hợp với lợi ích của đại đa số nhân dân.

Hai là, chủ thợ đều lợi. Nhà tư bản thì không khỏi bóc lột. Nhưng Chính phủ ngăn cấm họ bóc lột công nhân quá tay. Chính phủ phải bảo vệ lợi quyền của công nhân. Đồng thời, vì lợi ích lâu dài, anh chị em thợ cũng để cho chủ được số lợi hợp lý, không yêu cầu quá mức. Chủ và thợ đều tự giác tự động, tăng gia sản xuất lợi cả đôi bên.

Ba là, công nông giúp nhau. Công nhân ra sức sản xuất nông cụ và các thứ cần dùng khác, để cung cấp cho nông dân. Nông dân thì ra sức tăng gia sản xuất, để cung cấp lương thực và các thứ nguyên liệu cho công nhân. Do đó mà càng thắt chặt liên minh giữa công nông. Bốn là Lưu thông trong ngoài. Ta ra sức khai lâm thổ sản để bán cho các nước bạn và để mua những thứ ta cần dùng. Các nước bạn mua những thứ ta đưa ra và bán cho ta những hàng hoá ta chưa chế tạo được. Đó là chính sách mậu dịch, giúp đỡ lẫn nhau rất có lợi cho kinh tế ta.

Khi miền Bắc được giải phóng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, giai cấp địa chủ phong kiến bị đánh đổ, đồng nghĩa với thành phần kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô bị xoá bỏ. Vì vậy miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội vẫn tồn tại năm thành phần kinh tế mà Hồ Chí Minh đã chỉ ra từ năm 1953. Hồ Chí Minh vẫn nhất quán với quan điểm xây dựng, phát triển và sử dụng nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của cách mạng nước ta. Chính sách Người nêu đối với các thành phần kinh tế lúc này là:

Với kinh tế quốc doanh – là hình thức sở hữu của toàn dân, nó lãnh đạo nền kinh tế quốc dân. Cần phải phát triển thành phần kinh tế quốc doanh để tạo nền tảng vật chất cho chủ nghĩa xã hội và thúc đẩy việc cải tạo xã hội chủ nghĩa. Nhà nước phải đảm bảo cho nó phát triển ưu tiên.

Với kinh tế hợp tác xã – là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động; Nhà nước cần đặc biệt khuyến khích, hướng dẫn và giúp đỡ cho nó phát triển. Hợp tác hoá nông nghiệp là khâu chính thúc đẩy công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Cần phát triển từng bước vững chắc tổ đổi công và hợp tác xã.

Với kinh tế cá thể của những người làm nghề thủ công và lao động riêng lẻ khác, Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất của họ, ra sức hướng dẫn và giúp đỡ họ cải tiến cách làm ăn, khuyến khích họ tổ chức hợp tác xã sản xuất theo nguyên tắc tự nguyện.

Với kinh tế của những nhà tư sản công thương, Nhà nước không xoá bỏ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của họ; mà ra sức hướng dẫn họ hoạt động nhằm làm lợi cho quốc kế dân sinh, phù hợp với kế hoạch kinh tế của Nhà nước.

Với kinh tế tư bản nhà nước, Nhà nước khuyến khích và giúp đỡ các nhà tư bản đi theo chủ nghĩa xã hội bằng hình thức công tư hợp doanh và những hình thức khác; Nhà nước lãnh đạo hoạt động kinh tế theo một kế hoạch thống nhất.

Thừa nhận sự tồn tại khách quan, lâu dài của các thành phần kinh tế không xã hội chủ nghĩa là sự vận dụng sáng suốt những quan điểm mácxít của Hồ Chí Minh trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở thời kỳ quá độ. Mặt khác với đường lối xây dựng, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần của Hồ Chí Minh đã huy động được sức mạnh của toàn dân tộc có liên minh công nông trí thức làm gốc cùng tiến vào thời kỳ mới của dân tộc – xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, hoàn thành khát vọng của dân tộc: Độc lập dân tộc và tự do hạnh phúc cho toàn dân.

Sáng tạo học thuyết kinh tế của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định mục tiêu của cách mạng Việt Nam là: nhất định phải tiến lên CNXH, vì chỉ có CNXH mới thật sự có công bằng, được giải phóng, được mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân lao động. Và điều kiện để đạt tới mục tiêu đó là phải có sự lãnh đạo của một Đảng, biết vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước mình. 

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, CNXH mà nhân dân ta xây dựng không phải là những lý tưởng cao siêu, trừu tượng mà là một xã hội hiện thực, được hình thành từng bước, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Người nói: CNXH trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no, sống một đời hạnh phúc, “CNXH là mọi người dân được áo ấm cơm no, nhà ở tử tế, được học hành”. Và tư tưởng về chiến lược phát triển kinh tế ở nước ta của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm hướng tới mục tiêu đó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định đường lối kinh tế trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam phát triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân theo CNXH, biến nền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế XHCN với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến. Đường lối kinh tế ấy được bắt đầu từ nông nghiệp, lấy nông nghiệp làm cơ sở xuất phát để đưa toàn bộ nền kinh tế tiến đến trạng thái “cất cánh”. Người chỉ rõ: “Nước ta là một nước nông nghiệp, giống như Trung Quốc, Triều Tiên. Muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải lấy việc phát triển nông nghiệp làm gốc, làm chính”. Nhưng nông nghiệp chỉ có thể phát triển mạnh khi có sự gắn bó, tác động thúc đẩy lẫn nhau, tiền đề và điều kiện cho nhau cùng phát triển với công nghiệp. Người cho rằng: Nông nghiệp là nguồn cung cấp lương thực và nguyên liệu, đồng thời là một nguồn xuất khẩu quan trọng, nông thôn là thị trường tiêu thụ to nhất hiện nay cho nên cần phải cải tạo và phát triển nông nghiệp thì mới có cơ sở để phát triển các ngành kinh tế khác. Mặt khác, phải cải tạo và phát triển nông nghiệp để tạo điều kiện cho việc công nghiệp hóa nước nhà; Phải có một nền nông nghiệp phát triển thì công nghiệp mới có thể phát triển mạnh. Đồng thời công nghiệp phát triển thì sẽ giúp nông thôn ta về thủy lợi, phân bón, nông cụ cải tiến, máy móc nông nghiệp, sức điện,…công nghiệp phát triển thì nông nghiệp mới phát triển.

Thực hiện sự gắn bó, tác động qua lại giữa hai ngành kinh tế cơ bản như trên chính là việc mở rộng và phát triển trao đổi hàng hóa công nghiệp và nông nghiệp. Lênin đã chỉ: “Không thiết lập việc trao đổi hàng hóa hay sản phẩm một cách có hệ thống giữa công nghiệp và nông nghiệp, thì không thể có được những mối quan hệ đúng đắn giữa giai cấp vô sản và nông dân và không thể tạo ra được một hình thức liên minh kinh tế, hoàn toàn vững chắc giữa hai giai cấp đó trong giai đoạn quá độ từ CNTB lên CNXH”. Thời kỳ thực hiện chính sách kinh tế mới (NEP) Lênin đã đặc biệt chú trọng vai trò của lưu thông hàng hóa và thương nghiệp. Ông nói: “Ngày nay thương mại là hòn đá thử vàng của sinh hoạt kinh tế của chúng ta, là sự liên kết duy nhất có thể có giữa đội tiền phong của giai cấp vô sản với nông dân, là sự cố kết duy nhất có thể có để có thể bắt đầu thúc đẩy kinh tế phát triển một cách toàn diện”.

C.Mác cũng đã từng đặc biệt nhấn mạnh vai trò của lưu thông hàng hóa và thương nghiệp trong việc tác động, thúc đẩy nền sản xuất nhỏ phát triển lên sản xuất lớn, hiện đại.

Thấm nhuần tư tưởng đó của các nhà kinh điển (Chủ nghĩa Mác-Lênin) và trên cơ sở phân tích hoàn cảnh cụ thể của nền kinh tế nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất xem trọng vai trò của lưu thông hàng hóa và thương nghiệp đối với việc thúc đẩy sản xuất phát triển, xem đây như một bộ phận cơ bản hợp thành cơ cấu vận động của nền kinh tế. Người nói: “Trong nền kinh tế quốc gia có ba mặt quan trọng: nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp. Ba mặt công tác quan hệ mật thiết với nhau. Thương nghiệp là cái khâu giữa nông nghiệp và công nghiệp. Thương nghiệp đưa hàng đến nông thôn phục vụ nông dân, thương nghiệp lại đưa nông sản, nguyên liệu cho thành thị tiêu dùng. Nếu khâu thương nghiệp bị đứt thì không liên kết được nông nghiệp với công nghiệp, không củng cố được công nông liên minh. Công tác thương nghiệp không chạy thì hoạt động nông nghiệp, công nghiệp sẽ bị rời rạc". Xem trọng vai trò của lưu thông hàng hóa và thương nghiệp chính là xem trọng việc mở rộng và phát triển sản xuất hàng hóa, nâng cao số lượng và tỷ suất sản phẩm hàng hóa, dựa trên cơ sở không ngừng mở rộng phân công xã hội, phát triển các ngành nghề. Trong hoàn cảnh cụ thể của nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương: trước hết phải nhằm vào việc phát triển nông nghiệp toàn diện. Người nói: “Kế hoạch Nhà nước nhằm tăng cường thêm nữa sản xuất lương thực, thật sự đẩy mạnh việc trồng cây công nghiệp, việc chăn nuôi gia súc; đồng thời coi trọng nghề rừng, nghề cá, nghề muối và những nghề phụ khác”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc nhở rằng: “Những người sản xuất phải cố gắng sản xuất nhanh, nhiều, tốt và rẻ. Hàng làm ra nhanh và nhiều nhưng không tốt và rẻ thì không ai mua. Đồng bào ta nồng nàn yêu nước nên rất muốn dùng hàng của ta sản xuất. Nhưng trước hết người sản xuất phải làm hàng tốt và rẻ. Người sản xuất phải thật thà sản xuất hàng tốt cho đồng bào dùng, không nên làm hàng trưng bày thì tốt mà hàng bán thì xấu, giá cả phải chăng không lừa dối người mua. Sản xuất phải thiết thực và đúng hướng”.

Với tầm nhìn sâu rộng và phương pháp tư duy biện chứng về sự phát triển, trong khi nhấn mạnh nông nghiệp và mối quan hệ giữa nông nghiệp và công nghiệp thông qua việc phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt nó trong sự cân đối và phát triển hài hòa với các ngành khác của nền kinh tế. Người nói: “…lấy nông nghiệp làm chính, nhưng phải toàn diện, phải chú ý cả các mặt công nghiệp, thương nghiệp, tài chính, ngân hàng, giao thông, kiến trúc, văn hóa, giáo dục, y tế…”.

Tư tưởng kinh tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh chứa đựng những quan điểm cơ bản, vô cùng súc tích và tinh tế về đường lối chiến lược phát triển nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam và là một phương pháp luận mẫu mực về tư duy kinh tế. Đó là sự vận dụng nhuần nhuyễn, sinh động và sáng tạo học thuyết kinh tế Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam. Nội dung cốt lõi về tư tưởng kinh tế của Người là phát triển nền kinh tế sản xuất nhỏ nước nhà nhanh chóng lên sản xuất lớn, hiện đại XHCN bằng cách bắt đầu từ nông nghiệp và nông dân. Tập trung đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp trong mối quan hệ tác động biện chứng với sự phát triển công nghiệp thông qua việc mở rộng lưu thông hàng hóa và thương nghiệp, nâng cao số lượng và chất lượng hàng hóa. Trọng điểm của giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ là sản xuất lương thực (kể cả lúa và màu), gắn bó hài hòa với sản xuất các mặt hàng tiêu dùng và một số mặt hàng xuất khẩu có thế mạnh.

Để đảm bảo cho đường lối chiến lược phát triển kinh tế thực hiện đạt kết quả trên thực tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đề ra một hệ thống các biện pháp cần thiết như: Xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ phẩm chất và năng lực tương ứng với yêu cầu nhiệm vụ, tăng cường và hoàn thiện chế độ quản lý trong đó chú trọng công cụ kế hoạch và đòn bẩy lợi ích đối với người lao động, đẩy mạnh sản xuất đi liền với thực hành tiết kiệm, chú trọng chiến lược con người và phát triển khoa học kỹ thuật đi đôi với chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu.

Tư tưởng đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay vẫn còn giữ nguyên giá trị, đó là một chỉ dẫn quý báu, sâu sắc và thiết thực, là nguồn tài liệu vô giá của Người để lại cho thế hệ hôm nay và cho cả ngày mai đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Bạn đang đọc bài viết Trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế nhiều thành phần và chủ nghĩa xã hội tại chuyên mục Chính trị - Xã hội của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan@dddn.com.vn, hotline: (024) 3.5771239,