58,7 tỉ USD là tổng vốn đầu tư được công bố trong báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam dài gần 1.560km, đi qua 20 tỉnh thành. Trước một dự án có vốn đầu tư lên đến hàng chục tỉ USD (gần 50% nợ công), bất kỳ người dân nào cũng choáng ngợp bởi các thông tin hoành tráng, mục tiêu đặc ra.

p/Đường sắt tốc độ cao không thuộc loại dự án bức thiết, cần xem xét thận trọng, tính toán kỹ lưỡng.

Đường sắt tốc độ cao không thuộc loại dự án bức thiết, cần xem xét thận trọng, tính toán kỹ lưỡng.

Thực tế ở Việt Nam không biết bao dự án đã phải dừng lại vì thiếu vốn. Hơn nữa, tính khả thi, hiệu quả kinh tế xã hội, mong muốn của người dân đã được xem xét một cách thấu hay chưa?

 Nếu không có tiền, tất cả các ý tưởng cho dù hay nhất cũng bị phá sản. Dự án đường sắt tốc độ cao được cho là thực hiện theo hình thức đối tác công tư (PPP) nhưng phần lớn sử dụng nguồn vốn nhà nước không dưới 80% tổng mức đầu tư (gần 47 tỉ USD), chỉ 20% vốn tư nhân (gần 12 tỉ USD). Đây là số tiền lớn với một đất nước vừa thoát nghèo, e rằng ngân sách cũng không thể gánh vác nổi. Vay tư nhân thì khó khả thi, lãi suất sẽ rất cao, không dễ tìm đủ nguồn. Vay nước ngoài và các quỹ tín dụng của WB, ADB, IMF hay vốn ODA cũng không dễ như trước.

Tổ chức cho vay cũng lo ngại khả năng thu hồi vốn trong khi nợ công của Việt Nam đã là 61,4% GDP năm 2018, lên đến 3,5 triệu tỉ đồng, trung bình mỗi người dân “gánh” hơn 35 triệu nợ công. Theo dự báo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nợ công có thể tăng lên hơn 3,9 triệu tỉ đồng năm 2019 và 4,3 triệu tỉ đồng năm 2020.

Đường sắt tốc độ cao cực kỳ tốn kém và thường dành cho những quốc gia có sẵn nguồn lực và nền kinh tế mạnh, GDP gấp nhiều lần Việt Nam, đều đã hoàn thành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm chủ công nghệ tiên tiến.

Nhật Bản, Pháp là nước có ý tưởng đầu tiên cho sự ra đời đường sắt tốc độ cao, sau đó đến các nước Đức, Ý, Hàn Quốc, Trung Quốc, Tây Ban Nha. Không phải quốc gia nào giàu có, làm chủ công nghệ cũng làm đường sắt tốc độ cao. Mỹ ưu tiên được dành cho việc xây dựng một mạng lưới đường cao tốc liên bang, kết nối với các sân bay lớn, tuy tuyến đường sắt cạnh tranh kém hơn so với Nhật Bản và Pháp...

Việt Nam trong tương lai khi có khả năng, tiềm lực kinh tế mới có thể nghĩ đến đường sắt tốc độ cao. Trong điều kiện hiện nay chỉ là nước có thu nhập trung bình, nợ công đã vượt ngưỡng cho phép và sức ép trả nợ vay cũ tăng từng năm, nên ưu tiên đầu tư cho những dự án quan trọng và bức thiết nếu không làm thì nguy hại tới quốc kế dân sinh.

Làm đường sắt tốc độ cao không thuộc loại dự án bức thiết, cần xem xét thận trọng, tính toán kỹ lưỡng. Chưa kể khâu thu hồi vốn, tham gia nội địa hóa bao nhiêu phần trăm, thời gian khá lâu vài chục năm công nghệ có thể lạc hậu. Hay lệ thuộc chuyên gia nước ngoài trong sửa chữa, bảo dưỡng, phụ tùng thay thế, lúc đó lại càng tốn kém không đáng. Nhà chính khách tài ba sẽ có khả năng phát hiện ra thời điểm nào phù hợp để hiện thực hóa một dự án lớn mang đến hiệu quả, sinh lời, bảo đảm tính khả thi, ưu tiên lộ trình phát triển hợp lý.