- Ông có thể giải thích rõ hơn về sự khác biệt giữa hai khái niệm "Made in Vietnam" và "Origin of Vietnam"?

Hai khái niệm này thể hiện một là hoạt động sản xuất của doanh nghiệp và khái niệm còn lại chỉ tiêu chuẩn của hàng hóa, đây là hai khái niệm khác nhau, nhưng lại có sự giao thoa, liên hệ mật thiết với nhau và không phải ai cũng có thể hiểu hết được về vấn đề này.

Origin of Vietnam (xuất xứ hàng hóa Việt Nam) là một khái niệm đã được Luật hóa cụ thể. Để được chứng nhận là Origin of Vietnam thì bắt buộc phải đáp ứng tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật và được các cơ quan có thẩm quyền chứng thực hàng hóa do doanh nghiệp sản xuất có hay không đáp ứng tiêu chuẩn xuất xứ Việt Nam, bên cạnh việc một số doanh nghiệp cũng có thể tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa của mình nếu đáp ứng điều kiện pháp luật cho phép.

Còn đối với Made in Vietnam (sản xuất tại Việt Nam), mọi người vẫn hiểu nó là một công đoạn sản xuất tại Việt Nam. Nhưng theo tôi, hiện nay Made in Vietnam đang có nhiều điều để nói. Thứ nhất là nó chưa được luật hóa bằng những văn bản trong hệ thống các văn bản pháp luật. Thứ hai là khái niệm Made in Vietnam hiện nay cần phải được thu hẹp lại, tức là doanh nghiệp phải vượt qua được điều kiện sản xuất, gia công, chế biến cơ bản nhất thì mới được gọi là Made in Vietnam và đủ điều kiện cần để có thể chứng nhận xuất xứ Việt Nam

- Các phương pháp xác định xuất xứ Việt Nam hiện nay cũng đang gây nhiều tranh cãi, quan điểm của ông như thế nào về vấn đề này?

Đúng là đang có sự nhầm lẫn giữa phương pháp tính Giá trị và phương pháp tính Số lượng của các sản phẩm có tỷ lệ nhập khẩu và nội địa để khẳng định rằng sản phẩm đó có được gọi là sản xuất tại Việt Nam hay không? Theo cách tính trị giá gia tăng tại Việt Nam của hàng hóa do Bộ Công Thương quy định khi doanh nghiệp đề nghị cấp C/O form B tại Phòng Thương mại và Công nhiệp Việt Nam – VCCI thì được xác định theo tiêu chí “Tỷ lệ phần trăm giá trị” (LVC) cho hàng hóa xuất xứ Việt Nam không ưu đãi. Còn đối với các doanh nghiệp đề nghị cấp C/O theo các hiệp định FTA tại Bộ Công Thương thì được tính theo tiêu chí “Hàm lượng giá trị khu vực” (RVC).

Made in Vietnam (sản xuất tại Việt Nam) và Origin of Vietnam (xuất xứ hàng hóa Việt Nam) là hai khái niệm khác nhau, nhưng lại có sự giao thoa, liên hệ mật thiết với nhau

Theo tôi, khi đề cập đến những vấn đề liên quan đến trị giá gia tăng, doanh nghiệp có quyền nhập bán thành phẩm hoặc là nguyên liệu từ nước ngoài về nước để sản xuất và phải tính được nguyên liệu nhập về chiếm bao nhiêu % giá trị của hàng hóa xuất khẩu. Đối với một số sản phẩm, giá trị nguyên liệu xuất xứ Việt Nam trong sản phẩm có nguyên phụ liệu nhập khẩu để đạt được xuất xứ Việt Nam thì tỷ lệ này nguyên phụ liệu Việt Nam tối thiểu phải là 30%.

Tuy nhiên, hiện nay đang có sự hiểu nhầm về cách tính tỷ lệ nội địa hóa, thay vì phải tính theo phương pháp giá trị thì lại được hiểu theo phương pháp số lượng. Ví dụ, với một sản phẩm có 5 bộ phận để hoàn chỉnh mà doanh nhiệp nhập khẩu về 04 bộ phận, chỉ có 01 bộ phận được sản xuất ở trong nước. Nếu nhìn vào tỷ lệ này thì đánh giá đây không phải là sản phẩm có xuất xứ Việt Nam mà là của nước ngoài. Tuy nhiên, nếu theo phương pháp giá trị, 01 bộ phận được sản xuất ở trong nước lại có giá trị tối thiểu 30% giá trị sản phẩm thì theo quy định, sản phẩm này phải được công nhận là xuất xứ Việt Nam.

- Vừa rồi, công ty Asanzo tuyên bố sẽ xem xét khởi kiện công ty Sa Huỳnh về hành vi xâm phạm thương hiệu, theo ông trong trường hợp này có thể đưa ra Trọng tài Thương mại để giải quyết tranh chấp?

Để có thể sử dụng Trọng tài Thương mại thì phải có một điều kiện “cần” theo quy định của pháp luật, đó là giữa hai bên phải có một thỏa thuận về trọng tài có hiệu lực và thực hiện được trước hoặc khi có tranh chấp xảy ra.

Đối với trường hợp của Asanzo kiện báo Tuổi trẻ và công ty Sa Huỳnh vì đây không phải là một giao dịch hợp đồng mà là một hành vi khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Cụ thể là một bên có thể cho rằng bên kia đã đưa ra một thông tin không chính xác đối với bên mình và khiến mình bị thiệt hại. Giữa hai bên không có xác lập một giao dịch cụ thế, nên đây không phải là một giao dịch thương mại và cũng chưa thỏa mãn điều kiện “cần” theo quy định để sử dụng Trọng tài thương mại.

Tuy nhiên, tôi cũng lưu ý, trong bối cảnh Việt Nam hướng đến nền công nghệ 4.0 như hiện nay, những thông tin không chuẩn xác có thể tác động đến hình ảnh của doanh nghiệp, từ đó sẽ ảnh hưởng xấu đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu các bên muốn giữ gìn hình ảnh và bảo mật thông tin của mình không bị lọt ra ngoài, đặc biệt là đối với các vụ việc có sự lan tỏa mạnh về truyền thông như vụ của Asanzo thì việc lựa chọn Trọng tài Thương mại để giải quyết tranh chấp là một giải pháp hợp lý hơn. Đây là một sự khác biệt rất căn bản giữa Trọng tài Thương mại và Tòa án.

- Trong bối cảnh Việt Nam tham gia hàng loạt các FTA thế hệ mới thì câu chuyện làm thế nào để minh bạch xuất xứ hàng hóa lại được dấy lên, ông có lời khuyên gì cho các doanh nghiệp Việt?

Để tránh những rắc rối phát sinh liên quan đến kiện tụng, các doanh nghiệp Việt phải tuân thủ các quy định về xuất xứ hàng hóa để tránh việc kinh doanh các mặt hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ. Và một điều rất quan trọng nữa là các doanh nghiệp cần phải hiểu rõ thế nào là xuất xứ tại Việt Nam? Tránh những trường hợp chưa hiểu biết đầy đủ từ đó tiếp tay cho các đối tác nước ngoài truyển tải hàng hóa một cách bất hợp pháp ra thị trường nước ngoài gây ảnh hưởng chung cho các doanh nghiệp Việt. Đặc biệt là trong bối cảnh cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung đang rất căng thẳng như hiện nay.

- Xin cảm ơn ông!

Bạn đang đọc bài viết Hiểu cho đúng về “Made in Vietnam” tại chuyên mục Pháp luật của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan@dddn.com.vn, hotline: (024) 3.5771239,