Giải bài toán thiếu hụt điện (Kỳ III): Điểm nghẽn trong "xã hội hoá" lưới truyền tải điện

Enternews.vn Thiếu hụt khung pháp lý liên quan đến việc đấu thầu công trình hạ tầng truyền tải điện đang là rào cản cho xã hội hoá hệ thống truyền tải điện.

Trong bối cảnh nhiều dự án phát triển nguồn điện trong Quy hoạch Điện 7 điều chỉnh vẫn đang chậm tiến độ và được dự báo tiếp tục chậm, thậm chí khó có thể hoàn thành theo mục tiêu đề ra. Cùng với đó, nguồn điện nhập khẩu khó khăn và không được nhiều, thì hàng loạt các dự án phát triển nguồn điện mặt trời ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận đã được đẩy nhanh tiến độ hoàn thành trong tháng 6/2019 để kịp hưởng chính sách giá mua ưu đãi của Nhà nước là 9,35 cent/kWh.

Hệ thống lưới truyền tải

Hệ thống lưới truyền tải không đáp ứng được nhu cầu truyền tải điện đang là điểm nghẽn lớn.

Điều đáng nói, hệ thống lưới truyền tải điện ở đây lại không được thiết kế song hành, bổ sung kịp thời để đáp ứng sự gia tăng của nguồn, điều này dẫn đến tình trạng quá tải, có điện từ nơi cung mà không đến được với nơi cần.

Cho ý kiến về vấn đề này, ông Nguyễn Sỹ Cương, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội cho biết, quan điểm chung là xã hội hóa, tức là đồng ý cho tư nhân đầu tư vào xây dựng hệ thống truyền tải. Tuy nhiên, hệ thống truyền tải lại có 2 phần, một phần là từ chỗ nhà máy ra đến chỗ điểm đấu nối của hệ thống quốc gia, thứ 2 là hệ thống xương sống.

“Thực tế phần thứ hai này có cho đầu tư hay không thì cho đến bây giờ chưa ai có phát biểu chuyện đó cả, nó không có quan điểm rõ ràng. Tôi cũng nghĩ rằng cần phải làm rõ cái truyền tải nó bao gồm những cái gì, thì cái đó nó rất là quan trọng, bởi vì mạng lưới phân phối cũng là để truyền tải từ nguồn điện lực của quốc gia đến các đơn vị phân phối…”, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội nhấn mạnh.

Thực tế ở nước ta, hệ thống đường dây và trạm biến áp để tải điện được phân chia quản lý theo các cấp điện áp. Đối với đường dây và trạm biến áp có cấp điện áp từ 220-500kV được quy định là hệ thống truyền tải điện quốc gia (thường gọi là “lưới truyền tải”) do Tổng Công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT) đầu tư xây dựng và quản lý, vận hành. Còn đường dây và trạm biến áp từ 110kV trở xuống được gọi là “lưới điện phân phối”, do các công ty điện lực thuộc EVN đầu tư xây dựng và quản lý vận hành, hoặc các hợp tác xã phân phối điện năng tham gia quản lý, bán điện.

Như vậy, việc “xã hội hóa” lưới điện phân phối đã và đang tồn tại trong hệ thống điện Việt Nam, ở khâu phân phối, bán điện.

Ngay cả với các công trình truyền tải mang điện áp cao (220-500kV) đấu nối liên quan đến các nhà máy điện cũng đã được thực hiện từ nhiều năm trước. Cụ thể, một số doanh nghiệp của Nhà nước (như Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam hay Tập đoàn Dầu khí Việt Nam) khi đầu tư xây dựng nhà máy điện cũng đã làm luôn các “sân phân phối” - nghĩa là các đường dây và trạm biến áp (công suất 110-220-500kV) để đấu nối, tiếp nhận điện năng sản xuất từ nhà máy hòa vào lưới điện quốc gia. Sau khi xây dựng xong, những công trình này được bàn giao lại cho EVN tiếp nhận quản lý, vận hành - trên cơ sở đơn giá Bộ Tài Chính quy định.

Thời gian qua, khi xảy ra trưởng hợp quá tải cục bộ lưới truyền tải điện tại địa bàn Ninh Thuận, khi các dự án điện mặt trời cùng lúc hòa lưới ở thời điểm cuối tháng 6, đầu tháng 7/2019, một số doanh nghiệp đã đề xuất xin được đầu tư vào lưới truyền tải điện, thậm chí, để có thể đảm bảo việc đầu tư xây dựng nhanh nhất, doanh nghiệp đã đề xuất được xây dựng lưới truyền tải siêu cao áp 500kV từ nhà máy điện đấu nối với hệ thống truyền tải điện hiện có và sau khi hoàn thành sẽ “tặng lại” cho Nhà nước quản lý, vận hành.

Ông Nguyễn Hữu Vinh, Tổng giám đốc Tập đoàn Hà Đô tại Ninh Thuận cho rằng, trước tình hình như tỉnh Ninh Thuận, đặc biệt là lưới 100kV đang bị quá tải tất nhiên là nói là bị quá tải thế nhưng thực tế trên 90 dự án chỉ có khoảng 14% là bị quá tải thôi. Vừa rồi nghe câu chuyện quá tải nó nặng nề quá, nhưng thực tế nó chỉ thấp thôi. Nếu trong thời gian tới tiếp tục phát triển thì có thể nó sẽ bị nặng nề hơn.

“Tuy nhiên, nếu theo phương án mà được xã hội hóa thì tôi nghĩ sẽ góp phần giải quyết được các điểm nghẽn đó. Chúng tôi sẵn sàng, cho chúng tôi đầu tư đến đâu thì chúng tôi đầu tư đến đó, trên cơ sở hạch toán của chúng tôi, thấy có lợi thì chúng tôi làm. Về vận hành thì tôi đề nghị là vẫn giao cho EVN quản lý. Tôi nghĩ phải để cho EVN quản lý, đặc biệt liên quan đến an ninh năng lượng, không nên cho xã hội hóa việc đó..”, ông Nguyễn Hữu Vinh chia sẻ.

Trong khi đó, theo Giáo sư, Viện sĩ, TSKH Trần Đình Long, Phó Chủ tịch Hội Điện lực Việt Nam, ở nhiều quốc gia phát triển đã có sự tham gia của doanh nghiệp tư nhân vào việc đầu tư và quản lý, vận hành hệ thống điện. Tuy nhiên, ở Việt Nam, có 2 việc cần phải làm để doanh nghiệp tư nhân có thể tham gia đầu tư vào hệ thống lưới truyền tải điện.

Nếu cho phép doanh nghiệp đầu tư xây dựng các công trình truyền tải điện độc lập của Nhà nước nhưng không quản lý, vận hành mà bàn giao lại cho Tổng Công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT) - đại diện cho Nhà nước quản lý, vận hành thì không phải sửa Luật Điện lực, nhưng Nhà nước phải quản lý được chất lượng của các công trình truyền tải đó gắn với đơn giá đầu tư như các công trình truyền tải hiện hữu mà Bộ Tài Chính đại diện cho Nhà nước nghiệm thu, tính vào giá điện.

Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp muốn đầu tư xây dựng đường dây truyền tải và tham gia quản lý vận hành lưới truyền tải điện quốc gia thì phải sửa Luật hiện hành.

“Nếu doanh nghiệp muốn xây dựng hệ thống truyền tải mà sau đó quản lý luôn thì phải sửa Luật hiện hành. Và tôi nghĩ nếu Quốc hội sau khi nghiên cứu thấy rằng trong một số trường hợp cụ thể nào đó thì phải nói rõ trong luật”, GS Trần Đình Long nói, đồng thời cho ví dụ như việc doanh nghiệp đấu nối vào lưới điện mà ở cách xa nhà máy, thì thứ nhất là câu chuyện tải điện từ nhà máy đến hệ thống là ai sẽ chịu trách nhiệm, phải quy định ngay cả trong các hợp đồng.

Trường hợp nếu doanh nghiệp đã quy định thống nhất là tại nơi mà xảy ra các hoạt động mua bán thì ta có thể quy định là điểm mua bán điện là điểm nhà đầu tư nhà máy điện cộng thêm đoạn đường dây đến cuối đường dây của doanh nghiệp, toàn bộ phần này được coi như nhà máy của doanh nghiệp kéo dài thêm.

“Phần này thuộc về tài sản của doanh nghiệp, thuộc về quản lý của doanh nghiệp”, GS Trần Đình Long nói.

Đồng tình với quan điểm này, TS Đoàn Văn Bình, Viện trưởng Viện Khoa học Năng lượng (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) cho rằng, cũng tương tự như nhập khẩu điện, Nhà nước tự chủ trong quản lý, vận hành hệ thống truyền tải điện quốc gia là vô cùng quan trọng để đảm bảo an ninh quốc gia. Việc xã hội hóa lưới điện là cần thiết trong bối cảnh nguồn lực Nhà nước còn hạn chế, nhưng chỉ nên xác định trong một giới hạn nhất định, nhất là với hệ thống lưới điện áp cao, truyền tải công suất lớn - để đảm bảo sao cho việc vận hành của nó không làm ảnh hưởng tới lưới điện của quốc gia, nghĩa là không bao giờ có thể làm tan rã lưới trên tổng thể hệ thống.

Muốn làm được điều này, việc quan trọng là phải phân định rõ đâu là lưới truyền tải điện của quốc gia và đâu là lưới truyền tải nhưng không phải của quốc gia mà là của nhà đầu tư, để nếu như có xảy ra sự cố đối với lưới điện của nhà đầu tư cũng không làm ảnh hưởng đến việc quản lý vận hành và an ninh năng lượng của cả quốc gia.

Luật bây giờ cũng đã có quy định rồi, doanh nghiệp mua tại đâu thì đầu tư đến đấy, doanh nghiệp bán ở đâu thì đầu tư đến đấy. Doanh nghiệp đầu tư để anh đấu nối vào để bán thôi chứ đấy không phải là lưới quốc gia”, TS Đoàn Văn Bình nói.

Điều này có nghĩa, các lưới 220kV hay kể cả 500kV của các nguồn điện mà nhà đầu tư tự đầu tư để đầu nối vào các điểm nút của lưới quốc gia  thì nhà đầu tư tự đầu tư và quản lý/hoặc thuê Nhà nước là Tổng Công ty Truyền tải điện quốc gia quản lý (nhà đầu tư phải trả phí), chi phí quản lý vận hành lưới điện này phải tính vào trong giá thành sản xuất điện của nhà đầu tư bán lên lưới quốc gia.

“ Làm được điều đó thì nó đáp ứng được tiêu chí an ninh, thì như thế rất là rõ. Và như thế nó cũng tự nhiên trở thành việc xã hội hóa những nhánh lưới điện đấy. Chứ còn lưới truyền tải điện quốc gia thì không nên xã hội hóa, phải là độc quyền của quốc gia, không xã hội hóa được…”, TS Đoàn Văn Bình nói.

Theo TS Hà Đăng Sơn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và tăng trưởng xanh (Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam), phải hoàn thiện khung pháp lý trước khi đưa ra các quyết định có cho phép tư nhân đầu tư vào hệ thống truyền tải điện nay không, đầu tư đến đâu và ở mức độ nào. Và để công bằng trong việc xã hội hóa thì phải đấu thầu.

“Thế nhưng, trong Luật đấu thầu hiện chưa có quy định nào liên quan đến việc đấu thầu công trình hạ tầng truyền tải điện. Nếu áp dụng các dự án truyền tải điện theo Luật đấu thầu chung như với các dự án khác thì sẽ rất khó khăn để thực hiện”, TS Hà Đăng Sơn nhận định.

Cụ thể, TS Hà Đăng Sơn chỉ rõ, khung pháp lý duy nhất hiện nay là Luật Điện lực. Nếu muốn xã hội hóa thì có thể điều chỉnh lại. Ví dụ như cách thức để tham gia trong xã hội hóa là gì? chúng ta có đấu thầu hay không? Hay là chúng ta làm theo hình thức PPP? Hiện nay chưa có một mô hình rõ ràng, một quy định rõ ràng trong trường hợp này? Kỳ vọng của khối tư nhân về lợi ích mà họ nhận được là gì ở đây…

“Tất cả những vấn đề này cần phải được làm hết sức rõ ràng trong các quy định về mặt pháp lý chứ không thể nói chung chung là xã hội hóa, rồi sau đó để thả lỏng ra đấy rồi EVN và các nhà đầu tư tư nhân lại tự đàm phán với nhau thì nó không đạt được bất kỳ một kết quả nào cả. Bởi vì chúng ta không có một cái tham chiếu là cái mức bao nhiêu, cái ngưỡng bao nhiêu, anh phải làm gì, tôi phải làm gì, tôi được cái này hay tôi được cái kia… “. TS Hà Đăng Sơn nói.

Về chuyện tư nhân xây xong rồi chuyển giao lại vận hành, TS Hà Đặng Sơn cho rằng, cũng cần cụ thể việc định giá rồi đưa vào khấu hao, chi phí vận hành hay khung thời gian nếu không đạt được như đã thống nhất về mặt tiến độ thì trách nhiệm đền bù là gì cần quy định cụ thể.

“Việc xã hội hoá truyền tải điện nó còn bao hàm cả việc xây xong còn chuyển giao và vận hành nữa..”, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và tăng trưởng xanh nhấn mạnh.

Một điểm đáng lưu ý nữa là việc đầu tư vào hệ thống truyền tải điện quốc gia thời gian qua, nút thắt không chỉ là vốn, mà chủ yếu do công tác giải phóng mặt bằng chậm do lưới điện đi qua nhiều địa bàn, chính sách đất đai mỗi địa phương khác nhau. Tỷ lệ giải ngân vốn cho các công trình truyền tải điện cả năm 2019 chỉ được khoảng 20%.

Vì vậy, việc xã hội hóa lưới truyền tải điện cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, trên cơ sở xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý, đảm bảo lợi ích của mỗi nhà đầu tư và người dân địa phương có đất, gắn với lợi ích của từng người tiêu dùng, nhưng trên hết phải đảm bảo an toàn, an ninh của đất nước.

Kỳ IV: Giải pháp đảm bảo điện trong dài hạn

Đánh giá của bạn:

Mời các bạn tham gia vào Diễn đàn chuyên sâu: Doanh nhân, Doanh nghiệp, Diễn đàn bất động sản, Khởi nghiệp, Diễn đàn pháp luật, Diễn đàn Tài chính

Mời các bạn tham gia vào group Diễn đàn Doanh nghiệp để thảo luận và cập nhật tin tức.

Bạn đang đọc bài viết Giải bài toán thiếu hụt điện (Kỳ III): Điểm nghẽn trong "xã hội hoá" lưới truyền tải điện tại chuyên mục Kinh tế vĩ mô của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan@dddn.com.vn, hotline: (024) 3.5771239,
Bình luận
Bạn còn /500 ký tự
Xếp theo: Thời gian | Số người thích