Tôi đến nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn (Quảng Trị) lần đầu tiên năm lớp 9, từ đó trở đi mỗi năm quay lại ít nhất một lần. Lần nào cũng thế, cũng bắt gặp thân nhân đi tìm hài cốt liệt sĩ.

Đó là người mẹ già lặn lội từ ngoài Bắc, là người vợ chờ chồng đã mấy chục năm nay, là những đứa con chưa một lần thấy mặt cha, là những người đồng đội cùng chiến hào chỉ kịp thấy bạn mình ngã xuống… rồi thôi!

Một lần cách đây đã lâu, tôi gặp một người phụ nữ trạc sáu mươi, bà đi tìm chồng từng tham gia chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị đầu những năm 70 của thế kỷ trước nhưng đến nay vẫn… chưa về.

Điểm đến đầu tiên của bà là những ngôi mộ có tên tuổi, ngót buổi sáng, mồ hôi nhễ nhãi dưới cái nắng tháng sáu mà không thấy một ai có tên tuổi, năm sinh, quê quán như chồng mình.

Bà bất lực đứng nhìn về phía hàng mộ “chưa có tên”, nước mắt bà chảy dài trên má, ánh mắt xa xăm trông theo hàng lớp bia đá màu trắng bạc lốm đốm những đóa hoa hồng.

Một góc Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn (Quảng Trị)

Một góc Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn (Quảng Trị)

Mới 20 tuổi, tôi chưa đủ trải nghiệm để thấu cảm được nỗi đau của bà, nhưng biết bà rất buồn và tuyệt vọng. Tôi theo nhóm bạn tiếp tục cuộc hành trình và hình ảnh của bà cụ đi tìm chồng trong tâm trí tôi cũng nhanh chóng tan theo cơn gió Lào thổi xào xạc trên những đám cây thông.

Cho đến khi có chuyện, người thân của tôi - một chiến sỹ cách mạng ngã xuống trên chính mảnh đất mình sinh ra nhưng mấy chục năm nay không tìm thấy, gia đình đã đi nhiều nơi, tìm mọi cách nhưng không có kết quả.

Lúc này tôi đã đủ lớn để thấm thía hết nỗi đau, sự tuyệt vọng của công việc không khác nào “mò kim đáy biển”. Nhưng vẫn mong cầu một điều kỳ diệu nào đó xảy ra hay chí ít nuôi dưỡng niềm tin đồng đội đã quy tập về nơi nào đó, được nhang khói, được viếng thăm và được những đóa hoa hồng cắm trên mộ trong những ngày này.

Hai nghĩa trang quốc gia lớn nhất ở Quảng Trị, quanh năm suốt tháng không khi nào ngơi nghỉ những đoàn viếng thăm, trong đó rất nhiều người nuôi hy vọng tìm thấy người thân đã hy sinh.

Hàng ngàn nỗi tuyệt vọng chực bật ra tiếng khóc, hàng ngàn niềm vui rớt nước mắt, niềm an ủi lớn nhất là tấm khung nhỏ nhắn “Tổ quốc ghi công” treo ở góc trang trọng nhất trong mỗi ngôi nhà thân nhân liệt sĩ khắp mọi miền đất nước.

Những bản tin nhắn tìm đồng đội còn phát đi đồng nghĩa với chừng ấy nỗi tuyệt vọng và hy vọng được khơi ra hay vụt tắt. Hơn 40 năm hưởng hòa bình, nhưng cuộc đoàn tụ ở cấp độ gia đình còn vụn vỡ chưa biết đến khi nào lành lại.

Hàng chục năm chiến tranh nhưng có thể mất hàng trăm năm hoặc lâu hơn nữa để hàn gắn vết thương dù chẳng bao giờ vẹn nguyên. Đó là cái giá không gì mua được của hòa bình.

Giữ gìn sự hòa bình là giữ gìn hạnh phúc, tránh mất mát thương đau. Hòa bình thật sự là khi từng tấc đất thấm máu không bị mất đi, khi từng con người cảm thấy an tâm trên chính đất nước mình.

Hòa bình thật sự là khi độc lập thật sự, độc lập thật sự là khi không một thế lực nào có thể khiến chúng ta nao núng, dù đó là sức mạnh “mềm” hay chiến tranh không tiếng súng.

Thế giới có thể đổi thay, những cuộc chiến không còn thấy vỏ đạn, bạn, thù, địch, ta không còn xa cách nhưng không có nghĩa giữ gìn hòa bình giản đơn hơn thế hệ ông cha ta.

Thế giới phẳng, khái niệm “bạn - thù” dường như không có ranh giới, bạn có thể ở đâu đó rất xa nhưng kẻ thù có thể rất gần ta, thù không ôm súng lăm le ta, bạn cũng không còn duy cảm tình như xưa.

Tất cả là lợi ích kinh tế, chính trị; lợi ích quốc gia dân tộc, vì thế mà câu nói của cựu Thủ tướng Anh, Wiston Churchill vẫn còn đúng “thế giới này không có bạn bè hay kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia vĩnh viễn”.

Tự lực tự cường là con đường thênh thang tới hòa bình, điều đó đã được chứng minh!               

Bạn đang đọc bài viết Giá của hòa bình tại chuyên mục Tâm điểm của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan@dddn.com.vn, hotline: (024) 3.5771239,