Đại biểu Quốc hội chất vấn Bộ trưởng Bộ Giao thông

Đại biểu Quốc hội chất vấn Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải  nhiều vấn đề "nóng" liên quan đến dự án đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông.

Nguy cơ chậm kéo dài

Chất vấn Bộ trưởng Bộ GTVT sáng nay (5/6), ĐB Bùi Văn Xuyền (Thái Bình) đặt vấn đề về dự án đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông đã được Bộ là chủ đầu tư, phê duyệt từ 2009, dự án vốn ban đầu là hơn 8700 tỷ đồng, đến năm 2016 điều chỉnh nâng lên 18.000 tỷ đồng. Dự kiến dự án đi vào vận hành vào năm 2013. Cho đến nay, dự án vẫn chưa đưa vào vận hành thương mại được. “Bộ trưởng cho biết lý do gì mà đến nay, dù đã chạy thử và đạt 99% phần thi công, nhưng vẫn chưa đưa vào vận hành” - đại biểu nói và đặt câu hỏi về việc Bộ có xem xét trách nhiệm cá nhân liên quan đến việc đội vốn, kéo dài dự án không?

Trả lời chất vấn về dự án đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông, Bộ trưởng Giao thông Vận tải nói dự án này thực hiện theo hiệp định vay vốn giữa Việt Nam và Trung Quốc, trong đó tổng thầu do Trung Quốc chỉ định. 

Đây là dự án được Bộ Giao thông Vận tải phê duyệt năm 2009 với tổng mức đầu tư là hơn 550 triệu USD (tương đương gần 8.800  tỷ đồng), được phê duyệt điều chỉnh năm 2016 với tổng mức đầu tư là 868 triệu USD (tương đương 18.000 tỷ đồng) từ nguồn vốn vay ODA của Chính phủ Trung Quốc và vốn đối ứng trong nước.

Quy mô xây dựng tuyến đường sắt đô thị trên cao với chiều dài 13,05 km, bao gồm 12 ga và 1 depot; cung cấp và lắp đặt hệ thống thiết bị phục vụ.

Theo Bộ trưởng Thể, căn cứ tình hình thực tế, Bộ GTVT đã báo cáo Thủ tướng cho phép gia hạn thời gian thực hiện dự án với tiến độ hoàn thành giai đoạn thực hiện dự án trong quý 4/2018 với thời gian vận hành, chạy thử và thực hiện các công việc khác từ 3 - 6 tháng.

Tuy nhiên, đến nay có một số khó khăn vướng mắc dẫn đến chưa hoàn thành giai đoạn thực hiện để đưa dự án vào khai thác như tiến độ dự kiến.

Nhiều vướng mắc

Lý giải về nguyên nhân khách quan, Bộ GTVT đánh giá đây là dự án có quy mô, tổng mức đầu tư lớn, có tính chất kỹ thuật phức tạp, công nghệ mới lần đầu được triển khai ở Việt Nam. Nhiều hạng mục chưa có trong quy trình trong nước, phải vận dụng, sử dụng quy trình, công nghệ của Trung Quốc.

Dự án được triển khai trong khu vực trung tâm thành phố, nên công tác giải phóng mặt bằng phức tạp, di dời công trình hạ tầng kỹ thuật khó khăn, thời gian kéo dài. Quy hoạch kết nối giữa các tuyến đường sắt đô thị và kết nối với các loại hình vận tải công cộng chưa được xác định cụ thể nên mất nhiều thời gian thỏa thuận, phê duyệt làm ảnh hưởng đến quá trình triển khai dự án.

Với quá trình chuẩn bị đầu tư, triển khai dài, bị ảnh hưởng bởi những thay đổi về cơ chế, biến động về giá nguyên nhiên vật liệu, chính sách tiền lương và tỷ giá ngoại tệ… làm ảnh hưởng không nhỏ đến tổng mức đầu tư dự án.

Đặc biệt dự án trải qua 2 đợt nền kinh tế Việt Nam bị lạm phát cao (năm 2008 - CPI 19,9%; giai đoạn 2010 - 2011 CPI lần lượt là 11,8% và 18,13%). Tổng tỷ lệ lạm phát của riêng 3 năm này là 49,83% ảnh hưởng lớn đến giá nhân công, vật tư, vật liệu xây dựng, cộng với đó là việc tăng chi phí giải phóng mặt bằng dẫn đến tăng tổng mức đầu tư dự án là khó tránh khỏi.

Mặt khác, ở trong nước chưa có nền công nghiệp đường sắt phát triển, tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm cơ khí chưa cao làm tăng giá sản phẩm đầu vào, tăng tổng mức đầu tư dự án.

Dự án sử dụng vốn vay ODA nên phụ thuộc vào Hiệp định vay đã được ký kết với Nhà tài trợ.

Đây là dự án đường sắt đô thị đầu tiên áp dụng hình thức Hợp đồng EPC (tuy nhiên, quy định về Hợp đồng EPC chưa đầy đủ nên việc áp dụng khó khăn, lúng túng, đặc biệt là quy định về tính trọn gói giữa các yếu tố kỹ thuật và tài chính), quá trình thực hiện phụ thuộc nhiều vào Tổng thầu.

Đồng thời, Bộ GTVT cũng nhận định, do yếu tố khác biệt về quy định giữa hai quốc gia (các tiêu chuẩn kỹ thuật, quy định về hồ sơ thiết kế, dự toán) gây khó khăn trong điều hành, tổ chức thực hiện.

Theo đó, Bộ GTVT thừa nhận, do đây là dự án đầu tiên ở Việt Nam, kinh nghiệm lập dự án ban đầu của tư vấn trong nước còn hạn chế, chưa kiểm soát được kỹ thuật công nghệ; nhiều nội dung chưa được đề cập và nghiên cứu kỹ nên tổng mức đầu tư chưa phù hợp. Bộ máy quản lý dự án mới được hình thành, năng lực còn hạn chế, thiếu kinh nghiệm. Sự phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương có liên quan chưa chặt chẽ và đồng bộ, nhất là trong công tác giải phóng mặt bằng, triển khai các thủ tục đầu tư.

Tổng thầu chưa phải là đơn vị chuyên nghiệp, không có đầy đủ kinh nghiệm trong triển khai thực hiện dự án tổng thể bao gồm cả xây lắp, thông tin tín hiệu và đào tạo vận hành đồng bộ dẫn đến công tác quản lý điều hành của Tổng thầu còn nhiều lúng túng và bất cập.

Công tác giải ngân của Hiệp định vay bổ sung gặp nhiều vướng mắc do các bên chưa thống nhất được ý kiến pháp lý (Hiệp định vay bổ sung được ký kết từ 11/5/2017 nhưng đến 28/12/2017 các bên mới thống nhất được ý kiến pháp lý và đến ngày 25/4/2018 mới thống nhất được 13 điều kiện cho lần giải ngân đầu tiên của dự án).

Trả lời chất vấn của đại biểu, Bộ trưởng Thể cho biết: hiện dự án đã hoàn thành 99% khối lượng xây lắp, còn 1% là một số hạng mục nhỏ và tổng thầu đang triển khai công tác chứng minh an toàn hệ thống. "Bộ Giao thông Vận tải đã thuê một số tư vấn nước ngoài, trong đó tư vấn Pháp đứng đầu để đánh giá an toàn hệ thống. Nếu tổng thầu cung cấp thông tin không chuẩn thì tư vấn sẽ không thông qua phương án an toàn hệ thống".

Lãnh đạo Bộ Giao thông Vận tải khẳng định đang cùng tổng thầu, đơn vị liên quan cố gắng kết thúc 1% phần việc còn lại của dự án, trong đó có việc chứng nhận tất cả thiết bị đảm bảo an toàn hệ thống, khi đó mới có thể vận hành thương mại tuyến đường sắt này.

Bạn đang đọc bài viết Đường sắt đô thị Hà Nội - Cát Linh nguy cơ chậm kéo dài tại chuyên mục Chính trị - Xã hội của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan@dddn.com.vn, hotline: (024) 3.5771239,