Dự án Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi): Nhiều quan điểm trái chiều

Enternews.vn Theo Tờ trình về dự án Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) tại Quốc hội chiều 9/11, có quan điểm cho rằng, tiếp cận phòng, chống tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước theo Dự thảo là chưa triệt để và quan điểm khác lại cho rằng chưa cần đề cập đến phòng, chống tham nhũng ngoài khu vực nhà nước.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, đối tượng kê khai tài sản, thu nhập, dự án Luật vẫn còn tồn tại 02 quan điểm, thứ nhất, cần mở rộng đối tượng kê khai tài sản, thu nhập. Bởi lẽ, Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đưa ra một trong các giải pháp là tiến tới thực hiện kê khai tài sản, thu nhập của tất cả các cán bộ, công chức là đảng viên. Việc bắt buộc kê khai tài sản, thu nhập đối với tất cả các công chức khi được bổ nhiệm vào ngạch (bao gồm cả công chức xã, phường, thị trấn) là cần thiết nhằm nắm bắt thông tin đầu vào để kiểm soát biến động về tài sản, thu nhập (nếu có).

Sau khi kê khai lần đầu, những đối tượng này chỉ phải kê khai bổ sung nếu được bầu, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, được dự kiến cử làm đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp hoặc khi có biến động tài sản, thu nhập đến ngưỡng phải kê khai bổ sung. Theo phương án này, việc kê khai tài sản, thu nhập là bắt buộc đối với tất cả công chức khi được bổ nhiệm vào ngạch; viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; cán bộ, công chức khi được bầu, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, cử giữ chức vụ trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức khác được giao biên chế và sử dụng tài chính công, tài sản công.

Quan điểm thứ hai cho rằng, nên thu hẹp đối tượng kê khai tài sản, thu nhập, theo đó tập trung vào đối tượng có hệ số phụ cấp chức vụ cao (từ 0,7 trở lên ở cấp trung ương và 0,9 trở lên ở cấp địa phương) và một số đối tượng có hệ số phụ cấp chức vụ dưới 0,7 là người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong một số lĩnh vực có nguy cơ tham nhũng cao do Chính phủ quy định.

Ngoài ra, về cơ quan, đơn vị kiểm soát tài sản, thu nhập thì, xuất phát từ việc còn 02 quan điểm về đối tượng kê khai tài sản, thu nhập nên dự thảo Luật quy định: cơ quan, đơn vị kiểm soát tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai thuộc diện quản lý của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và người có nghĩa vụ kê khai trong cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng được thực hiện theo quy định của Đảng và đưa ra 02 phương án về cơ quan, đơn vị kiểm soát tài sản, thu nhập trong các cơ quan nhà nước.

Phương án 1: Thanh tra Chính phủ; Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ và cơ quan Trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp có sử dụng ngân sách nhà nước; Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước; Thanh tra các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan, đơn vị phụ trách công tác tổ chức - cán bộ tại nơi không có cơ quan thanh tra, Thanh tra tỉnh.

Phương án 2: Thanh tra Chính phủ; Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ và cơ quan Trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp có sử dụng ngân sách nhà nước; Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước.

Mặt khác, về công khai bản kê khai tài sản, thu nhập, có ý kiến cho rằng, bản kê khai tài sản, thu nhập được công khai như sau: đối với người kê khai nói chung thì thực hiện công khai tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó thường xuyên làm việc; đối với người dự kiến được bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý tại cơ quan, tổ chức, đơn vị phải được công khai tại cuộc họp lấy phiếu tín nhiệm khi tiến hành quy trình bổ nhiệm; đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phải được công khai tại hội nghị cử tri nơi công tác và và tại điểm bầu cử.

Thời điểm, hình thức công khai được thực hiện theo quy định của Hội đồng bầu cử quốc gia; đối với người dự kiến được bầu, phê chuẩn tại Quốc hội, Hội đồng nhân dân phải được công khai với đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân trước khi bầu, phê chuẩn; đối với người dự kiến bầu giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý tại doanh nghiệp nhà nước được công khai tại cuộc họp lấy phiếu tín nhiệm khi tiến hành bổ nhiệm hoặc tại cuộc họp của Hội đồng thành viên khi tiến hành bầu các chức vụ lãnh đạo, quản lý.

Cũng có quan điểm, thay hình thức “công khai tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người kê khai thường xuyên làm việc” bằng hình thức “công khai tại cuộc họp chi bộ nơi người kê khai là đảng viên sinh hoạt” cho phù hợp với Nghị quyết Trung ương 3 khóa X của Đảng: “… Tiến tới tất cả đảng viên là cán bộ, công chức đều phải kê khai tài sản, công bố trong chi bộ, cấp ủy và giải trình nguồn gốc khi có yêu cầu”.

Bên cạnh đó, về xử lý hành vi tham nhũng được phát hiện qua hoạt động, thanh tra, kiểm toán có 02 quan điểm là, trường hợp phát hiện hành vi có dấu hiệu tham nhũng thì người ra quyết định thanh tra từ cấp tỉnh trở lên, người ra quyết định kiểm toán phải chỉ đạo xác minh, làm rõ tính chất, mức độ của hành vi tham nhũng, ra kết luận và khi có dấu hiệu tội phạm thì chuyển ngay hồ sơ vụ việc sang cơ quan điều tra, đồng thời thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp biết.

Trường hợp phát hiện hành vi có dấu hiệu tham nhũng nhưng cơ quan thanh tra nhà nước, Kiểm toán nhà nước không đủ điều kiện xác minh, làm rõ, kết luận thì người ra quyết định thanh tra, kiểm toán phải chủ động phối hợp và chuyển tài liệu, đồ vật có liên quan cho cơ quan điều tra có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật, đồng thời thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp biết. Thực tế, quan điểm trên xuất phát từ một số căn cứ như:

Thứ nhất, việc quy định như trên nhằm làm rõ về trách nhiệm của các cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước trong phạm vi thẩm quyền về thanh tra, kiểm toán các vụ việc có dấu hiệu tham nhũng theo quy định của Luật Thanh tra, Luật Kiểm toán nhà nước. Quy định này không nhằm thay đổi các quy định pháp luật tố tụng hình sự hiện hành.

Thứ hai, việc đưa ra phương án trên là xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước trong phát hiện và xử lý các vụ việc có dấu hiệu tham nhũng. Thực tiễn thời gian qua cho thấy, các cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước hoàn toàn có đủ điều kiện để kết luận, làm rõ về tính chất, mức độ của hành vi tham nhũng thông qua hoạt động thanh tra, kiểm toán, đặc biệt là các vụ việc tham ô hoặc sử dụng trái phép tài sản, tài chính công, nhưng do pháp luật không rõ ràng nên số vụ việc được các cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước kết luận rõ hành vi tham nhũng và chuyển cơ quan điều tra ít hơn so với khả năng thực tế và mong đợi của Nhà nước, Nhân dân.

Thứ ba, quy định này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền, đặc biệt là giữa các cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước với các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát các cấp trong phát hiện, xử lý các vụ việc có dấu hiệu tham nhũng, khắc phục những hạn chế đã được phát hiện qua tổng kết 10 năm thi hành Luật PCTN.                                                                                                                

Đánh giá của bạn:

Mời các bạn tham gia vào Diễn đàn chuyên sâu: Doanh nhân, Doanh nghiệp, Diễn đàn bất động sản, Khởi nghiệp, Diễn đàn pháp luật, Diễn đàn Tài chính

Mời các bạn tham gia vào group Diễn đàn Doanh nghiệp để thảo luận và cập nhật tin tức.

Bạn đang đọc bài viết Dự án Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi): Nhiều quan điểm trái chiều tại chuyên mục Chính trị - Xã hội của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan@dddn.com.vn, hotline: (024) 3.5771239,
Bình luận
Bạn còn /500 ký tự
Xếp theo: Thời gian | Số người thích