Dự án Đạm Ninh Bình: Tiềm ẩn bất đồng EPC

Enternews.vn Công tác đàm phán, thương thảo và ký kết hợp đồng EPC không tuân thủ ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, để nhà thầu đưa vào hợp đồng nhiều nội dung gây bất lợi cho chủ đầu tư…

Đây là nội dung đã được Kiểm toán Nhà nước gửi lên Thủ tướng về những sai phạm tại dự án Nhà máy Đạm Ninh Bình. Theo Kiểm toán Nhà nước, nhiều nội dung không rõ ràng, tiềm ẩn nguy cơ gây bất đồng ý kiến khi giải quyết các tồn tại của gói thầu EPC.

việc lựa chọn nhà thầu bằng hình thức đàm phán trực tiếp không đạt mục tiêu thu xếp vốn tín dụng cho dự án như kế hoạch, sau khi đàm phán, dự án chỉ vay ưu đãi từ Trung Quốc được 250 triệu USD/480 triệu USD.

Việc lựa chọn nhà thầu bằng hình thức đàm phán trực tiếp không đạt mục tiêu thu xếp vốn tín dụng cho dự án Đạm Ninh Bình, dự án chỉ vay ưu đãi từ Trung Quốc được 250 triệu USD/480 triệu USD.

Cụ thể, trong quá trình triển khai, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam không tuân thủ ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc dừng đàm phán hợp đồng EPC để tổ chức đấu thầu. Ngày 16/7/2007, tại văn bản số 3959/VPCP-CN của văn phòng Chính phủ thông báo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ là kết thúc đàm phán trực tiếp hợp đồng EPC để điều chỉnh dự án, sớm tổ chức đấu thầu nhưng chủ đầu tư vẫn tổ chức đoàn công tác sang Bắc Kinh 3 ngày (từ ngày 7/8/2007 đến ngày 10/8/2007) để thông báo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ và 24 ngày (từ ngày 4/9/2007 đến ngày 28/9/2007) sang Trung Quốc để tiếp tục đàm phán hợp đồng EPC, trong khi chưa xin chủ trương của Thủ tướng Chính phủ.

Nhiều sai phạm nghiêm trọng

Đến ngày 1/11/2007, chủ đầu tư mới có báo cáo số 1015/HCVN-ĐTXD và ngày 31/10/2007 Bộ Công Thương cũng có báo cáo số 2535/BCT-CLH gửi Thủ tướng Chính phủ về việc báo cáo kết quả đàm phán hợp đồng EPC và đề nghị cho phép ký hợp đồng EPC với nhà thầu HQCEC.

Tổ chuyên gia đàm phán không thực hiện đánh giá về mặt tài chính, thương mại, không lập báo cáo đánh giá hồ sơ đề xuất của nhà thầu là không tuân thủ đề cương và nội dung đàm phán ngày 12/7/2006 (theo đó nội dung đàm phán thương mại, tài chính phải bao gồm cơ sở của chào giá, chi tiết giá gói thầu…). Khi nhà thầu đề xuất tăng giá gói thầu EPC 48 triệu USD ( từ 432 triệu USD lên 480 triệu USD), nhưng chủ đầu tư không xem xét thương thảo và đề nghị làm rõ lý do, căn cứ, cơ sở của việc điều chỉnh tăng đối với từng nội dung chi tiết.

Trong quá trình đàm phán về kỹ thuật, nhà thầu đề xuất danh mục một số thiết bị, công nghệ có thông số kỹ thuật, nguồn gốc xuất xứ…thay đổi so với hồ sơ yêu cầu, nhưng chủ đầu tư không xem xét, đề nghị làm rõ nguyên nhân phải thay đổi và sự ảnh hưởng, tác động của những thay đổi đó đến yếu tố kỹ thuật và tài chính của gói thầu EPC (nếu có) trước khi thông nhất.

Cụ thể, đối với xưởng lò hơi và phát điện, hồ sơ yêu cầu thiết bị chính là thiết bị sản xuất theo tiêu chuẩn EU hoặc Mỹ, thời gian khai thác 8.000giờ/năm, công suất 130 tấn hơi/giờ, áp suất hơi 9,8 Mpa, nhiệt độ hơi 540 độ C. Tuy nhiên, kết quả đàm phán là lò hơi Trung Quốc, thời gian khai thác 7.200 giờ/năm, công suất 130 tấn hơi/giờ, áp suất hơi 5 Mpa, nhiệt độ hơi 400 độ C. Hồ sơ yêu cầu kho than gồm 4 si lô chứa than (2 si lô chứa than nguyên liệu, 2 si lô chứa than nhiên liệu), nhưng sau đàm phán là kho chứa có mái che.

Nhiều thiết bị trong hồ sơ đề xuất của nhà thầu có thông số, nguồn gốc, xuất xứ thiết bị khác so với hồ sơ yêu cầu, nhưng tổ chuyên gia không yêu cầu nhà thầu làm rõ và đánh giá những thay đổi này có ảnh hưởng đến các thông số khi vận hành nhà máy và hiệu quả  hoạt động của dự án hay không.

Công tác đàm phán, thương thảo và ký kết hợp đồng EPC kéo dài đã làm phát sinh tăng giá gói thầu 48 triệu USD (từ 432 triệu USD lên 480 triệu USD). Ngày 16/11/2006, hợp đồng nguyên tắc giữa chủ đầu tư và HQCEC đã được thống nhất. Theo đó, giá hợp đồng là 432 triệu USD (là giá trọn gọi và không thay đổi). Theo báo cáo của tổ chuyên gia đàm phán tại văn bản ngày 16/11/2006, các nội dung đàm phán đã được thống nhất, không còn gì vướng mắc và đề nghị Tổng công ty chấp thuận những nội dung đã đàm phán để thực hiện các bước tiếp theo.

Tuy nhiên, đến ngày 15/11/2007 (khi hợp đồng nguyên tắc đã hết hiệu lực), hợp đồng EPC mới được ký kết với giá trị hợp đồng điều chỉnh tăng lên là 480 triệu USD theo đề xuất của nhà thầu với lý do chi phí nguyên vật liệu, nhân công tăng.

Tại thời điểm ký hợp đồng, giá hợp đồng EPC (quy đổi sang USD theo tỷ giá tại thời điểm ký hợp đồng) lớn hơn giá gói thầu là 184,834 triệu USD là không phù hợp với quy định tại Khoản 29, Điều 3 và Khoản 1, Điều 42, Nghị định số 88/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 1/9/1999 về việc điều ban hành quy chế đấu thầu.

Cụ thể, tại thời điểm ký hợp đồng, giá hợp đồng EPC gồm 4 loại đồng tiền bao gồm 88.880.000 USD, 17.512.000 EUR, 2.552.968.000 RMB (nhân dân tệ) và 752.550.000 VND. Nếu quy đổi sang USD (tỷ giá tại thời điểm ký hợp đồng) thì giá trị hợp đồng EPC là 505,834 triệu USD, trong khi giá gói thầu theo kế hoạch đấu thầu duyệt ngày 22/3/2006 là 321 triệu USD.

Giá hợp đồng EPC (quy đổi sang USD theo tỷ giá tại thời điểm ký hợp đồng) lớn hơn giá trị gói thầu EPC trong tổng mức đầu tư điều chỉnh 25,512 triệu USD là không phù hợp với quy định tại Khoản 2, Điều 39, Nghị định số 16/2005/NĐ-CP của Chính phủ. Cụ thể, giá hợp đồng quy đổi sang USD (tỷ giá tại thời điểm ký hợp đồng) là 505,834 triệu USD, trong khi giá trị gói thầu EPC trong tổng mức đầu tư điều chỉnh tại Quyết định số 646/QĐ-HCVN là 480 triệu USD (quy đổi giá trị hợp đồng  EPC theo tỷ giá tại thời điểm 17/5/2006 là thời điểm nhà thầu EPC nộp hồ sơ đề xuất).

Nhà thầu dễ dàng “qua mặt” chủ đầu tư

Vẫn theo Kiểm toán Nhà nước, việc lựa chọn nhà thầu bằng hình thức đàm phán trực tiếp không đạt mục tiêu thu xếp vốn tín dụng cho dự án như kế hoạch, điều kiện tiên quyết lựa chọn nhà thầu EPC ban đầu (vay ưu đãi từ phía Trung Quốc với điều kiện đạt tối thiểu từ 90% giá gói thầu EPC). Cụ thể, theo hợp đồng nguyên tắc ký ngày 16/11/2006 giữa chủ đầu tư với nhà thầu EPC, thì 1 trong 4 điều kiện tiên quyết là nhà thầu HQCEC có trách nhiệm thu xếp nguồn vốn vay ưu đãi từ phía Trung Quốc với điều kiện đạt tối thiểu 90% giá gói thầu EPC, lãi suất < 3,5%/năm. Nhưng thực tế sau khi đàm phán, dự án chỉ vay ưu đãi từ Trung Quốc được 250 triệu USD/480 triệu USD, đạt 52% so với điều kiện ban đầu.

Công tác đàm phán hợp đồng EPC không đảm bảo hiệu lực, hiệu quả để nhà thầu đưa vào hợp đồng nhiều nội dung gây bất lợi cho chủ đầu tư. Đơn cử, quy định về đồng tiền hợp đồng, đồng tiền thanh toán tại hợp đồng EPC bao gồm nhiều loại tiền tệ (USD, EUR,RMB,VND), không đồng nhất với đồng tiền nguồn vốn (USD, VND) làm cho dự án phải chịu rủi ro về tỷ giá khi thực hiện giao dịch chuyển đổi ngoại tệ để thanh toán cho phần giá trị hợp đồng EPC bằng RMB và EUR.

Quy định công thức xác định tỷ giá chuyển đổi giữa RMB sang USD tại hợp đồng EPC (được tính bằng tỷ giá bình quân của tỷ giá mua tiền mặt, tỷ giá mua chuyển khoản và tỷ giá bán chuyển khoản) không phù hợp với bản chất của giao dịch chuyển đổi ngoại tệ thanh toán bằng chuyển khoản, chưa tối ưu về kinh tế, làm tăng giá trị thanh toán bằng USD, giảm tính hiệu quả sử dụng vốn của dự án do tỷ giá mua chuyển khoản thấp hơn tỷ giá được xác định theo công thức trên.

Quy định về giá trị thanh toán 90% chi phí vật liệu và thiết bị khi vận chuyển FOB và 95% giá trị thiết bị có bản quyền khi vận chuyển CIF không có cơ sở và chưa đảm bảo tính thận trọng, tiềm ẩn rủi ro cho chủ đầu tư bởi giá trị còn lại chưa thanh toán không đủ lớn để ràng buộc nhà thầu phải hoàn thành mọi nghĩa vụ theo quy định của hợp đồng. Thực tế hiện nay cho thấy, dự án đang còn một số tồn tại liên quan đến máy móc, thiết bị nhập khẩu như đã nêu tại các mục “quản lý chi phí” và “quản lý chất lượng” gói thầu EPC có liên quan đến việc thực hiện đầy đủ trách nhiệm, nghĩa vụ của nhà thầu EPC.

Chủ đầu tư yêu cầu nhà thầu đền bù khi không đạt công suất và định mức tiêu hao nguyên nhiên liệu mà không yêu cầu khắc phục đạt yêu cầu thiết kế, dẫn đến tiềm ẩn nhiều rủi ro cho phương án tài chính của dự án, giá trị phạt hợp đồng không thể bù đắp thiệt hại do tiêu hao nguyên, nhiên liệu vượt quá tiêu chuẩn thiết kế và sản lượng sản phẩm không đạt công suất thiết kế trong cả vòng đời dự án. Chủ đầu tư cũng không đưa ra được cơ sở tính toán của 95% công suất và 105% hao phí vật liệu làm mốc để phạt hợp đồng.

Đánh giá của bạn:

Mời các bạn tham gia vào Diễn đàn chuyên sâu: Doanh nhân, Doanh nghiệp, Diễn đàn bất động sản, Khởi nghiệp, Diễn đàn pháp luật, Diễn đàn Tài chính

Mời các bạn tham gia vào group Diễn đàn Doanh nghiệp để thảo luận và cập nhật tin tức.

Bạn đang đọc bài viết Dự án Đạm Ninh Bình: Tiềm ẩn bất đồng EPC tại chuyên mục Doanh nghiệp của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan@dddn.com.vn, hotline: (024) 3.5771239,
Bình luận
Bạn còn /500 ký tự
Xếp theo: Thời gian | Số người thích