[VIỆT NAM HÙNG CƯỜNG] “ĐỔI MỚI 2” là tất yếu

Enternews.vn Các động lực cho nền kinh tế đã bị giới hạn và chúng ta cần có “Đổi Mới 2” với những cải cách thể chế, chính sách kinh tế mạnh mẽ để tạo ra động lực phát triển mới.

Nhiều thay đổi mang tính đột phá đã được thực hiện, song còn rất nhiều việc, thậm chí những việc khó hơn đổi mới lần 1 đang cần làm.Phát biểu kết luận phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 8/2019, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc một lần nữa nhắc tới cuộc “Đổi Mới 2” và nói rằng: “Đổi Mới 1” đã đưa đến những thành công vang dội trong hơn 30 năm qua nhưng các động lực cho nền kinh tế đã bị giới hạn và chúng ta cần có “Đổi Mới 2” với những cải cách thể chế, chính sách kinh tế mạnh mẽ để tạo ra động lực phát triển mới.

p/Tại phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 8/2019, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tiếp tục khẳng định chúng ta cần cóp/“ĐỔI MỚI 2”.

Tại phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 8/2019, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tiếp tục khẳng định chúng ta cần có “ĐỔI MỚI 2”.

Ông Ousmane Dione - Giám đốc Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam:

Hành trình để Việt Nam trở thành nền kinh tế có thu nhập cao bây giờ mới bắt đầu và những thành tựu mà Việt Nam đạt được từ hơn 30 năm qua không bảo đảm sẽ thành công trong tương lai. Chính vì vậy, Việt Nam cần thay đổi và đổi mới mô hình tăng trưởng để trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045, trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động.

Để thành công trong tương lai, Việt Nam cần chuyển sang tăng trưởng dựa vào tăng năng suất đây chính là thách thức mà Việt Nam cần phải giải quyết, trong đó cần phân bổ nguồn lực hiệu quả, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng như đổi mới sáng tạo. Cần có một quá trình đổi mới hiệu quả với lộ trình phù hợp trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau. Bên cạnh đó, điều quan trọng là môi trường kinh doanh thuận lợi giúp các doanh nghiệp có điều kiện tối ưu để đổi mới sáng tạo.

PGS.TS Vũ Minh Khương - thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc:

Một khi mỗi người Việt Nam chúng ta, dù ở đâu, đều thấy có trách nhiệm đóng góp vào tương lai phồn vinh của đất nước thì khát vọng thành công của đổi mới lần 2 để Việt Nam trở thành một quốc gia hùng cường trong 3-4 thập kỷ tới là hoàn toàn hiện thực.

Trong thời gian qua, chúng ta đã có những nỗ lực rất lớn trong cải thiện môi trường kinh doanh, kiểm soát tham nhũng, và thúc đẩy thu hút đầu tư. Tuy nhiên chiến lược phát triển chưa rõ, người ưu tú ở các mặt trận then chốt chưa nhiều, cơ chế vẫn ở tình trạng nửa cũ nửa mới.

Từ tư duy quản lý Nhà nước sang quản trị quốc gia

Sau 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được thành tựu lớn trên nhiều mặt, được thừa nhận rộng rãi cả trong và ngoài nước. Ở đổi mới lần 1, Nhà nước đã thu hẹp phạm vi, vai trò và chức năng của mình, tạo dư địa cho thị trường và khu vực tư nhân tồn tại và hoạt động.

Bài học thực tế 30 năm qua cho thấy, đổi mới tư duy là yếu tố quyết định và mở đường cho thay đổi và phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Trong giai đoạn tới, một hệ thống tư duy và quan niệm mới phải được hình thành và áp dụng để mở ra không gian mới, tiềm năng mới và động lực mới cho phát triển kinh tế-xã hội, trong đó cải cách thể chế và đột phá thể chế giữ vai trò quan trọng hàng đầu.

Lâu nay chúng ta vẫn nêu ra yêu cầu quen thuộc trong nền hành chính công là cần chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ. Chúng ta cũng bắt đầu làm quen với khái niệm cần chuyển đổi tư duy từ quản lý Nhà nước sang quản trị quốc gia.

Để nói mạch lạc nhất, quản lý là một khái niệm hẹp, nói về vai trò của Nhà nước tác động lên các đối tượng bị quản lý. Còn quản trị quốc gia là một khái niệm rộng hơn, gồm nhiều thành phần cấu thành nên một mô hình thực thi quyền lực của một nước. Có 4 phần cấu thành của một nền quản trị quốc gia tốt, trước hết đó là pháp trị, thứ hai là vận hành mọi công việc của Nhà nước phải minh bạch; thứ 3 là phải bảo đảm chế độ trách nhiệm; thứ 4 là sự tham gia của người dân.

  Đổi mới tư duy là yếu tố quyết định và mở đường cho thay đổi và phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam.

Chính sách không thể ban ơn từ bên trên xuống, chính sách phải có sự tham gia của người dân để hình thành, thấu hiểu nguyện vọng, khó khăn của người dân và đáp ứng được nguyện vọng của họ.

Cả một nền quản trị quốc gia mà tốt thì lúc ấy kinh tế - xã hội mới phát triển tốt lên được. Thủ tướng nói thể chế quản trị quốc gia có nghĩa là các nguyên tắc quản trị quốc gia, các quy định pháp luật về quản trị quốc gia, năng lực để tuân thủ các quy định đó và năng lực để áp đặt việc tuân thủ các quy định đó nó tạo nên thể chế.
Chính vì vậy, xác định mô hình tăng trưởng là quan trọng, nhưng định hướng lớn về mặt chính sách, thể chế, tổ chức thực hiện để đạt được mục tiêu mà Việt Nam mong muốn còn quan trọng hơn.

Đổi mới thể chế

Tuy vậy, Quản trị quốc gia và Đổi mới thể chế là hai khái niệm khác nhau. Các thể chế vận hành quản trị quốc gia chúng ta phải đổi mới, ví dụ chúng ta có các cơ quan nắm giữ quyền lực của đất nước gồm có Đảng, Quốc hội, Chính phủ, tòa án, còn quyền lực ở địa phương thì có chính quyền địa phương.

Điều đầu tiên chúng ta phải làm rõ được: Việc gì, thể chế nào làm tốt nhất. Ví dụ phân bổ nguồn lực thì thị trường làm tốt hơn các quy định chủ quan của Nhà nước. Thị trường là bàn tay vô hình nhưng ở đâu hiệu quả hơn thì người ta đầu tư vào đó nếu có sự tự do.

Nhưng thị trường lại thất bại trong việc bảo đảm công bằng. Muốn để xác lập đúng thì phải thấy rõ cái gì, thiết chế nào làm được. Ví dụ đời sống chính trị của đất nước, bảo đảm định hướng, thấy tương lai viễn cảnh ở phía trước mà thôi thúc con người ta đi, việc đó chỉ có Đảng làm được thì Đảng nên làm tốt việc đó. Còn Nhà nước ban hành chính sách, bảo đảm tuân thủ pháp luật, anh làm tốt thì nên tập trung vào làm cái đó. Như vậy để phân định, chúng ta phải biết chức năng nào, thiết chế nào làm tốt nhất.

Ông Lý Quang Diệu đã làm được cho Singapore việc thiết kế một hệ thống chính sách tạo động lực về lợi ích. Đừng ép con người phải làm bất lợi cho người ta, đừng ép người ta phải vào hợp tác xã rồi làm từ sáng đến tối xong mỗi tháng được chia 1/10 cái người ta làm ra. Cái gì cũng ở trên cơ sở lợi ích và động lực thúc đẩy hành vi của con người.

Nếu chúng ta không thiết kế một hệ thống động lực của chính sách thì chính sách đó hết sức không hiệu quả. Chính sách đó hết sức tốn kém bởi muốn thực thi thì phải áp đặt. Tôi ví dụ như cải cách hành chính, nếu chúng ta chỉ nói phải thế này, phải thế kia mà không có lợi cho công chức thì nó sẽ không lâu bền được.

Đảng đã nói tới đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế từ Đại hội XI. Đến Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII), Trung ương đã có Nghị quyết số 05, nhận diện cụ thể hơn về quan điểm, định hướng đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, lấy thước đo là hiệu quả năng suất, chất lượng lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Ở đây, Việt Nam cần nhấn mạnh hai nhân tố quan trọng quyết định thành công trong tương lai của Việt Nam. Thứ nhất là CHẤT LƯỢNG. Việt Nam cần chuyển sang tăng trưởng dựa vào tăng năng suất, trong đó tốc độ tăng năng suất trung bình cần phải tăng mạnh, nhưng thành tựu này cho đến nay cũng chỉ một số ít nước đã đạt được.

Thứ hai là THỰC HIỆN. Những thách thức trong quá trình phát triển hiện nay của Việt Nam phức tạp hơn nhiều so với 30 năm qua. Một phần của sự phức tạp này bắt nguồn từ thực tế là các vấn đề phát triển đang ngày càng trở nên đa ngành. Giảm nghèo không chỉ đòi hỏi cải thiện đời sống kinh tế, mà còn cải thiện các dịch vụ cơ bản và phát triển nguồn vốn nhân lực.Hành trình Việt Nam “hóa rồng” chỉ mới bắt đầu và những thành tựu trong 30 năm qua không đảm bảo cho sự thành công trong tương lai. Và yêu cầu của một cuộc ĐỔI MỚI lần 2 là tất yếu.

Mời các bạn tham gia vào group Diễn đàn Doanh nghiệp để thảo luận và cập nhật tin tức cùng cơ hội nhận quà tặng hàng tháng.
Bạn đang đọc bài viết [VIỆT NAM HÙNG CƯỜNG] “ĐỔI MỚI 2” là tất yếu tại chuyên mục Chính trị - Xã hội của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan@dddn.com.vn, hotline: (024) 3.5771239,
Bình luận
Bạn còn /500 ký tự
Xếp theo: Thời gian | Số người thích

Thị trường chứng khoán 2020: VN-Index có thể đạt mốc 1.100 điểm

Theo các chuyên gia, sang năm 2020 có nhiều yếu tố nội lực và ngoại lực tác động lên thị trường, đặc biệt là kỳ vọng thi trường được nâng hạng lên thị trường mới nổi.