Nội dung chính của báo cáo nghiên cứu tiền khả thi được quy định trong Luật Đầu tư công nhìn chung phù hợp với chuẩn mực quốc tế về loại phân tích này. Thông lệ chung đòi hỏi phải thực hiện nghiên cứu tiền khả thi trong thẩm định các dự án lớn, nhưng thường thì trước đó phải trình bày biện minh cho dự án theo cách đơn giản hơn nhằm đảm bảo dự án đó xứng đáng được có kinh phí để thực hiện bước tiếp theo.

Ảnh minh hoạ, cao tốc Hà Nội - Hoà Bình

Ảnh minh hoạ, cao tốc Hà Nội - Hoà Bình, nguồn: Internet.

Ví dụ, tại Hàn Quốc để đảm bảo dự án lớn phải được Bộ Tài chính xem xét, sau đó mới đến quyết định được thực hiện nghiên cứu tiền khả thi, sau đó mới là nghiên cứu khả thi.

Nghiên cứu tiền khả thi thường cò cùng nội dung và phương thức phân tích như nghiên cứu khả thi, điểm khác biệt là nghiên cứu tiền khả thi thường dựa trên thông tin sơ cấp và thiết kế cơ sở như đối với nghiên cứu khả thi.

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, qua thảo luận và phát hiện trên mẫu các dự án khảo sát đó cũng là cách hiểu và thông lệ dự kiến về thực hiện nghiên cứu tiền khả thi ở Việt Nam.

Ngân hàng Thế giới đánh giá, nghiên cứu tiền khả thi không nên là căn cứ duy nhất để đưa ra quyết định về việc dự án có sử dụng công quỹ hiệu quả không?

Mặc dù, Việt Nam có thực hiện nghiên cứu khả thi, nhưng quyết định phê duyệt chủ trương đầu tư lại được đưa ra căn cứ vào nghiên cứu tiền khả thi và do tính hiệu lực cao của quyết định chủ trương đầu tư, những phân tích sâu hơn và có độ tin cậy lớn hơn được cung cấp trong suốt quá trình chuẩn bị và thẩm định báo cáo khả thi lại không ảnh hưởng nhiều đến quyết định đầu tư trên góc độ pháp lý.

Sau khi nghiên cứu tiền khả thi đã được phê duyệt, ngân sách được phê duyệt trong khâu này được chốt trong kế hoach đầu tư công trung hạn và ít khi bị thay đổi ở khâu nghiên cứu khả thi.

Vì vậy, trong thực tế mặc dù báo cáo nghiên cứu khả thi có tính chất nghiên cứu thiết kế chi tiết hơn, nhiều thông tin tin cậy hơn lại không có tính quyết định như báo cáo nghiên cứu tiền khả thi. Điều này nghĩa là một trong những bộ lọc kiểm soát chất lượng quan trọng cần có của một hệ thống tốt đã bị loại bỏ.

Theo Ngân hàng Thế giới, ngay từ đầu ở khâu báo cáo chủ trương và sau đó là trong suốt hệ thống quản lý đầu tư công, Luật Đầu tư công phân biệt rõ ràng về các yêu cầu phân tích cho dự án có cấu phần xây dựng và dự án không có cấu phần xây dựng, khiến cho cách tiếp cận trở nên manh mún và có khả năng thiếu nhất quán.

Theo Luật Đầu tư công, các dự án xây dựng được áp dụng khung pháp lý khác về nội dung của báo cáo tiền khả thi. Nội dung chính quy định trong Luật Đầu tư công, áp dụng cho các dự án không có cấu phần xây dựng, dài hơn và đòi hỏi phân tích chi tiết hơn so với các dự án có cấu phần xây dựng, theo quy định tại Luật Xây dựng 2014.

Ngân hàng Thế giới đánh giá, không có lý do hợp lý nào về sự khác biệt về chi tiết hoặc nội dung giữa hai loại dự án. Các dự án, miễn là được xác định đúng là dự án đầu tư công, cần được đối xử như nhau trong hệ thống của hầu hết các quốc gia khác.

Có thể nội dung trong Luật Xây dựng được viết súc tích hơn và cả hai loại dự án đều phải phân tích với độ sâu như nhau, tuy nhiên điều này không được thể hiện rõ trong khung pháp luật và quy định hiện hành. Ngay cả khi điều đó là đúng, sự phân biệt thành hai loại dự án như hiện nay tạo ra sự thiếu rõ ràng trong diễn giải và thiếu thống nhất trong áp dụng, vì vậy, Ngân hàng Thế giới khuyến nghị, Việt Nam nên cân nhắc áp dụng một khung pháp lý thống nhất đầy đủ cho đầu tư công.

Bạn đang đọc bài viết Định hướng chiến lược trong đầu tư công ở Việt Nam (Kỳ V) tại chuyên mục Đầu tư của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan@dddn.com.vn, hotline: (024) 3.5771239,