(DĐDN)- Bộ Khoa học và Công nghệ đang lập đề án đào tạo, bồi dưỡng nhân lực giai đoạn 2017-2025 với tổng kinh phí dự kiến khoảng 900 tỉ đồng từ nguồn ngân sách Nhà nước. Điều đáng nói, đề án để đào tạo nhân lực cho lĩnh vực “then chốt” của nước nhà nhưng lại thật sự chưa... khoa học.

dao-tao-nhan-sưXét về mặt bằng chung, VN được xếp vào nước có nhiều tiến sĩ trong khu vực, nhưng nghiên cứu khoa học lại nằm trong nhóm thấp nhất Đông Nam Á.

Trong cuộc họp lấy ý kiến lần đầu về dự thảo đề án đào tạo, bồi dưỡng nhân lực KH-CN tại Bộ KH-CN cách đây không lâu nhiều ý kiến tỏ ra không đồng thuận. Không phải bởi đề án này có ngân sách lên tới 900 tỷ đồng mà bởi mục tiêu cách thức thực hiện. Một chuyên gia cho biết, nếu chỉ chạy theo “mặt bằng” số lượng, không đưa ra được các tiêu chí cụ thể “mũi nhọn” ngành nghề, lĩnh vực ưu tiên thì khả năng tăng lượng bằng sáng chế, giải pháp hữu ích đáp ứng nhu cầu đổi mới khoa học công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vẫn chỉ là viễn cảnh xa vời.

Thiếu thực tế

Theo ông Phan Tuấn Nghĩa, GS Trần Đức Viên - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội: “Mục tiêu của đề án đưa ra là nâng cao năng lực công nghệ của VN nên cần bổ sung sản phẩm đầu ra của đề án một cách tường minh. Cụ thể là, chúng ta sẽ nâng hạng về khoa học công nghệ lên bao nhiêu? Cần xác định rõ công nghệ chủ lực, ưu tiên của nước ta là gì, công nghiệp mới là gì?"

Mục tiêu của đề án đặt ra đến năm 2025, cử khoảng 350 chuyên gia, 80 nhóm nghiên cứu, 500 Tiến sĩ, 500 cán bộ quản lý KH-CN đi đào tạo trong nước và nước ngoài.

Ông Trần Quang Cường - Phó Vụ trưởng Vụ KHCN, Bộ Thông tin truyền thông cho rằng: “Không hiểu chuyên gia có đào tạo được không? Có cung cấp dịch vụ đào tạo chuyên gia hay không? Muốn làm chuyên gia thì mỗi người phải tự phát triển, tự nâng cao trình độ của mình và được cộng đồng xung quanh thừa nhận là chuyên gia”.

Thậm chí đại diện đến từ Bộ Tư pháp thẳng thắn: “Chúng ta luôn nói giáo dục công nghệ là quốc sách hàng đầu nhưng công nghệ VN mãi chẳng lên hàng đầu, bởi gốc chúng ta chưa tốt nên bồi dưỡng về KHCN là rất khó”.

Được biết, đề án đào tạo, bồi dưỡng nhân lực KH-CN sẽ được bổ sung hoàn thiện theo ý kiến đóng góp của các đại biểu và trình Chính phủ vào cuối năm 2015. Trong trường hợp đề án được Chính phủ thông qua thì đến năm 2017 mới bắt đầu thực hiện. Chưa nói về mức kinh phí nhưng rõ ràng, dù là một đề án về phát triển nhân lực khoa học công nghệ nhưng lại không thể hiện một cách khoa học và biện chứng. Điều này cũng phần nào lý giải vì sao KHCN của VN mãi “đì đẹt” trong khu vực.

Nhìn rộng hơn, cuối năm 2014, theo thống kê của Bộ KH -CN, cả nước có 24.300 tiến sĩ và 101.000 thạc sĩ. So với năm 1996 đội ngũ này tăng trung bình 11,6%/năm, trong đó tiến sĩ tăng 7%/năm, thạc sĩ tăng 14%/năm. Nhưng một thống kê khác của bộ này cho thấy, trong 5 năm (2006 - 2010) cả nước chỉ có khoảng 200 bằng sáng chế, giải pháp hữu ích được cấp tại Cục Sở hữu trí tuệ và chỉ có 5 bằng sáng chế được đăng ký tại Mỹ, trung bình mỗi năm có một bằng sáng chế; riêng năm 2011, VN không có bằng sáng chế nào được đăng ký tại đây. Đặc biệt VN rất ít sáng chế có thể đưa vào khai thác giá trị thương mại.

Thừa lượng, thiếu chất

Trong khi đó, tại khu vực Đông Nam Á, Singapore (4,8 triệu dân) có 647 bằng sáng chế. Đứng thứ hai là Malaysia (27,9 triệu dân) với 161 bằng sáng chế; Thái Lan (68,1 triệu dân) có 53 sáng chế. Còn một nước có số dân và trình độ phát triển tương đương nước ta là Philippines cũng có tới 27 bằng sáng chế. Xét về mặt bằng chung, VN được xếp vào nước có nhiều tiến sĩ trong khu vực, nhưng nghiên cứu khoa học lại nằm trong nhóm thấp nhất Đông Nam Á. Đặc biệt, chúng ta vẫn thiếu các công trình khoa học có tầm cỡ khu vực và không muốn nói là quá ít các sáng chế.

Cụ thể, đề án đặt ra mục tiêu đến năm 2025 sẽ cử khoảng 350 chuyên gia, 80 nhóm nghiên cứu, 500 tiến sĩ, 500 cán bộ quản lý khoa học và công nghệ đi đào tạo trong nước và nước ngoài. Tiêu chí để được lựa chọn tham gia các chuyến đào tạo này để đảm bảo hiệu quả?

Bộ trưởng Bộ KH - CN Nguyễn Quân từng lý giải về thực trạng này: Ước tính ở VN chỉ có 24% tiến sĩ công tác tại lĩnh vực kỹ thuật KHCN. Trong số đó còn bao nhiêu người thật sự đang làm khoa học? “Mặc dù chưa có thống kê cụ thể, nhưng tôi nghĩ con số đó không nhiều. Còn lại 76% còn lại thuộc lĩnh vực kinh tế, tài chính, quản trị DN… Đây là những lĩnh vực không thể có sáng chế” - ông Quân chia sẻ.

Cũng về đầu tư cho phát triển KHCN, năm 2014, Chính phủ đã phê duyệt đề án đào tạo 23.000 tiến sĩ cho các trường đại học trong giai đoạn 2010 – 2020. Cái giá cho đề án này là 14.000 tỷ đồng, tức khoảng 778 triệu USD. Có thể nói đây là một đề án lớn và có nhiều tham vọng, thực hiện được sẽ nâng cao khả năng khoa học của nước ta lên một tầm mới.

Theo GS Nguyễn Xuân Hãn, trong suốt 65 năm qua, dù với sự hỗ trợ lớn từ các nước châu Âu, VN mới có khoảng 15.000 tiến sĩ. Thực tế, trong thời gian qua và những phân tích trên đây cho thấy để đào tạo 23.000 tiến sĩ trong vòng 10 năm là một đề án khó khả thi.

KHCN được coi là nền tảng quan trọng để đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội và nhân lực là yếu tố then chốt nhưng rõ ràng không thể lấy số lượng tiến sĩ làm thước đo cho sự phát triển KHCN. Lâu nay chúng ta đã quá coi trọng số lượng để đạt được mặt bằng mà chưa tập trung đầu tư mũi nhọn các ngành nghề ưu tiên. Nếu như không đưa ra được các mục tiêu, tiêu chí lựa chọn cụ thể, thậm chí là các chế tài thì không chỉ tốn kém về ngân sách, lãng phí nguồn lực mà khả năng cải thiện về số lượng cũng như chất lượng các bằng sáng chế được công nhận có thể ứng dụng trong thực tế phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước vẫn sẽ mãi xa vời.

Phan Nam

Bạn đang đọc bài viết Đầu tư phát triển khoa học công nghệ: “Mặt bằng” hay “mũi nhọn”? tại chuyên mục Doanh nghiệp-Doanh nhân của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan@dddn.com.vn, hotline: (024) 3.5771239,