Đại biểu Vũ Tiến Lộc (

Đại biểu Vũ Tiến Lộc (đoàn Thái Bình).

Về vấn đề cân đối ngân sách, trong mấy năm gần đây chúng ta đã đạt được một số tiến bộ như tỷ lệ thâm hụt ngân sách đã không còn vượt dự toán như trước đây, tỷ lệ nợ công so với GDP đang giảm dần, kỳ hạn vay nợ dài hơn và với lãi suất thấp hơn, tỷ trọng vay trong nước cũng cao hơn…. Những kết quả này đạt được có công rất lớn của Chính phủ trong việc nỗ lực ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, chống đô la hoá, từ đó ổn định lãi suất và tỷ giá ở mức hợp lý, tạođượcniềm tin cho các nhà đầu tư nắm giữ các tài sản bằng VND, đặc biệt là trái phiếu chính phủ có kỳ hạn dài.

Tuy nhiên, nếu nhìn sâu hơn, thì chúng ta có thể nhận thấy rằng những chuyển biến này chưa thật sự bền vững. Nguồn thu chính từ các hoạt động kinh tế, điển hình là thu từ thuế đối với khu vực doanh nghiệp, có dấu hiệu thiếu ổn định, không đạt dự toán và thậm chí sụt giảm. Trong khi đó, tỷ lệ chi thường xuyên so với tổng chi NSNN vẫn luôn duy trì ở mức cao (hơn 60%) và chưa có chuyển biến gì theo chiều hướng tích cực trong những năm qua, dẫn đến thu NSNN, về cơ bản, mới chỉ đủ đáp ứng cho mục đích tiêu dùng và trả nợ.

Cân đối ngân sách, do đó, vẫn phụ thuộc nhiều vào nguồn thu từ đất đai, tài nguyên và bán tài sản Nhà nước, tức là phụ thuộc vào các khoản thu 1 lần và không có tính bền vững. Với tình trạng ngân sách vẫn còn khó khăn như vậy, tôi đề nghị chúng ta nên sử dụng các khoản thu NSNN vượt dự toán hàng năm cho việc giảm nợ công, giảm áp lực trả nợ, chứ không chỉ dùng để  tiếp tục tăng chinhư hiện nay.

Về tổng thể, thì sự lo lắng của chúng ta về vấn đề cân đối ngân sách nhà nước cho đến nay đã không còn lớn như vài năm trướ cnhưng ở tầm nhìn trung và dài hạn thì chúng ta vẫn chưa thể yên tâm. Giải pháp căn cơ để đạt được cân đối tài chính quốc gia trong trung và dài hạn là bên cạnh những nỗ lực thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh để tăng thu thì vẫn phải kiên quyết cắt giảm bộ máy về mức hợp lý, từ đó giảm tỷ trọng chi thường xuyên xuống còn khoảng trên/dưới 50%, theo đúng tinh thần các Nghị Quyết của Đảng và của Quốc hội.

Vấn đề hiệu quả đầu tư là vấn đề chúng ta còn đáng lo lắng hơn. Đầu tư kém hiệu quả là vấn đề tồn tại dai dẳng bao nhiêu năm nay nhưng vẫn chưa được cải thiện nhiều. Mặc dù báo cáo của Chính phủ có nêu rằng hệ số ICOR giảm từ 6,36 của giai đoạn 2011-2014 xuống còn 6,11 trong giai đoạn 2015-2017, nhưng mức giảm như vậy là không đáng kể. Việc phải tốn hơn 6 đồng đầu tư mới có một đồng tăng trưởng cho thấy hiệu quả sử dụng vốn đầu tư vẫn còn rất thấp.

Trên thực tế, vẫn còn nhiều dự án chưa có tính cấp thiết hay có giá trị sử dụng không cao như tượng đài hay quảng trường… vẫn đang được xây dựng. Chúng ta vẫn phân bổ vốn đầu tư theo nguyên tắc bình quân chủ nghĩa, mỗi địa phương, mỗi bộ ngành một ít, chứ không dựa trên cơ sở hiệu quả tổng thể của nền kinh tếquốc dân. Tình trạng đầu tư dàn trải, manh mún, kém hiệu quả vì vậy vẫn còn phổ biến.

Số lượng các dự án đầu tư bị đội vốn, bị chậm tiến độ có thể kể ra không biết bao nhiêu. Và trong các nguyên nhân, có cả việc chính quyền không có đủ vốn đối ứng, thậm chí không có tiền để trả nợ đọng cho các doanh nghiệp đã ứng tiền trước để xây dựng dự ánvà do vậy đã đẩy các doanh nghiệp vào tình trạng khó khăn, thua lỗ. Tôi đề nghị cần ưu tiên trả nợ đọng trước khi bố trí vốn cho các dự án đầu tư mới, để giải quyết sớm tình trạng này. Đầu tư kém hiệu quả và lãng phí còn thể hiện ở vô số các dự án đã không bảo đảm chất lượng, vừa hoàn thành xong đã phải sửa chữa, mà ví dụ gần đây nhất là dự án đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi trị giá hơn 34.000 tỷ đồng. Đây là sự lãng phí lớn, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội trong dài hạn nhưng chưa được tổng kết, quy đổi ra những tác động tiêu cực đến GDP.

Dự án Luật Đầu tư công sửa đổi trình ra Quốc hội lần này là một nỗ lực đáng ghi nhận, nhưng trong dự thảo, chúng ta cũng chỉ mới tập trung nhiều vào việc cắt giảm các quy trình, thủ tục đầu tư với mục tiêu chính là đẩy nhanh tiến độ giải ngân. Điều này là cần thiết, nhưng chưa đủ. Các vấn đề liên quan đến việc nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành bảo đảm tăng được hiệu quả đầu tư, tránh thất thoát, lãng phí, tôi thấy, ít được đề cập. Và nếu chúng ta chỉ nới lỏng các quy định về quy trình, thủ tục đầu tư, tăng cường phân cấp, phân quyền trong quyết định đầu tư, nhưng những ràng buộc trách nhiệm đối với những người ra quyết định và tổ chức thực thi không được xác định rõ thì tôi e rằng càng giải ngân nhiều, càng giải ngân nhanh, thì thất thoát, lãng phí và nợ công sẽ ngày càng lớn hơn.

Đây là những vấn đề tôi đề nghị Quốc hội xem xét, cân nhắc kỹ khi thông qua Dự án Luật Đầu tư công sửa đổi lần này.

Cuối cùng, để nâng cao hiệu quả đầu tư công, tôi đề nghị cần nghiên cứu tổng kết và nhân rộng các mô hình đầu tư-tư sử dụng công, đâu tư công-quản trị tư… thực hiện phương thức hợp tác công-tư trong việc xây dựng và vận hành các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội, chứ không chỉ riêng trong lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng (như kinh nghiệm của Quảng Ninh, Hà Nội, Thái Bình … và một số địa phương đang làm rất tốt). Để thúc đẩy xu hướng này, tôi đề nghị Chính phủ sớm trình Quốc hội ban hành Luật về đối tác công-tư. Đối tác công-tư minh bạch, hài hoà và hiệu quả sẽ là lời giải quan trọng bậc nhất cho việc huy động không chỉ nguồn lực tài chính và còn cả trí tuệ của các nhà đầu tư trong và ngoài nước và của toàn dân cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta trong thời gian tới.

Bạn đang đọc bài viết Đại biểu Vũ Tiến Lộc đề xuất Chính phủ sớm trình Quốc hội ban hành Luật về đối tác công-tư tại chuyên mục Chính trị - Xã hội của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan@dddn.com.vn, hotline: (024) 3.5771239,