TS Manop Udomkerdmongkol - Chuyên gia kinh tế, Phó Giám Đốc Bộ phận Kinh tế toàn cầu và Nghiên cứu thị trường Ngân hàng UOB Thái Lan đã nhận định như vậy tại báo cáo "Kinh tế Việt Nam: Điểm sáng của châu Á giữa bối cảnh căng thẳng thương mại" do ngân hàng này phát hành chiều 20/8.

TS Manop Udomkerdmongkol - Chuyên gia kinh tế, Phó Giám Đốc Bộ phận Kinh tế toàn cầu và Nghiên cứu thị trường Ngân hàng UOB Thái Lan

TS Manop Udomkerdmongkol - Chuyên gia kinh tế, Phó Giám Đốc Bộ phận Kinh tế toàn cầu và Nghiên cứu thị trường Ngân hàng UOB Thái Lan

Trong nửa đầu năm 2019, kinh tế Việt Nam đã gia tăng 6,8% so với năm 2018, được thúc đẩy chủ yếu bởi lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp, công nghiệp và xây dựng, dịch vụ đặc biệt là buôn bán sỉ và lẻ, vận tải, truyền thông, tài chính và ngân hàng, giáo dục và y tế.

Ngoài ra, hoạt động xuất khẩu và sản xuất công nghiệp vẫn là những động lực tăng trưởng kinh tế quan trọng.

Nhờ sự tăng trưởng ổn định trong khâu xuất khẩu các sản phẩm công nghệ và các hiệp định thương mại tự do, xuất khẩu tăng 7,3% so với năm ngoái, trong khi nhập khẩu tăng 10,5% vào nửa đầu năm 2019.

Nhiều yếu tố thuận lợi

“Vào năm 2019, chúng tôi dự đoán mức tăng trưởng của Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam đạt 6,7% (nhìn chung là đạt mục tiêu tăng trưởng đã công bố - 6,8%) và mức lạm phát ở khoảng 3,4%. Theo đó, Việt Nam sẽ trở thành một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới”. - TS Manop Udomkerdmongkol  đưa ra dự đoán.

Theo vị chuyên gia này, thương chiến giữa Hoa Kỳ - Trung Quốc đã tạo nên biến động mạnh mẽ trong lĩnh vực thương mại toàn cầu, làm trì trệ hoạt động xuất khẩu từ những quốc gia đang phải chi trả thêm thuế xuất nhập khẩu.

Cụ thể, Trung Quốc - công xưởng của thế giới và các quốc gia được tích hợp trong chuỗi cung ứng của Trung Quốc bị đình trệ trong hoạt động xuất khẩu. Lo ngại về thuế xuất nhập khẩu cao đã khiến các nhà sản xuất (là những bên bị tác động bởi thuế bổ sung, dù là trực tiếp hoặc gián tiếp) phải cân nhắc mục tiêu hoạch định các chiến lược hiệu quả về mặt chi phí bằng cách di dời cơ sở sản xuất sang những địa điểm khác nhằm giảm thiểu tác động từ thuế quan thương mại.

Sỡ hữu vị trí chiến lược để sản xuất và phân phối hàng hóa bằng đường bộ và đường biển, Việt Nam là một quốc gia lý tưởng cho hoạt động sản xuất và xuất khẩu thế giới. Đối với vận tải đường bộ, Việt Nam được hưởng nhiều lợi thế vì có đường biên giới giáp Lào, Campuchia và đặc biệt là Trung Quốc, nhà cung cấp chính các sản phẩm và nguyên liệu thô của khu vực.

Đối với vận tải đường biển, phía Đông Việt Nam là một khu vực ven biển trải dài từ Bắc đến Nam, với ba thành phố cảng lớn ở cả Bắc, Trung và Nam. So với các quốc đảo như Philippines và Indonesia, khoảng cách và thời gian di chuyển của vận tải đường biển tại Việt Nam là ngắn hơn, do đó tiết kiệm được chi phí và đẩy nhanh tốc độ tiếp cận thị trường.

Theo vị chuyên gia kinh tế đến từ Thái Lan, "ngoài lợi thế về mặt địa lý giáp với Trung Quốc, một trong những lợi thế cạnh tranh khác của Việt Nam trong việc thu hút nguồn vốn FDI là mức chi phí lao động tương đối thấp, đặc biệt khi so với Trung Quốc và Thái Lan.

Bên cạnh đó, một điểm mạnh khác của Việt Nam trên vị thế của một đất nước tập trung sản xuất để xuất khẩu là mạng lưới các hiệp định thương mại chặt chẽ. Hiện tại, Việt Nam có tổng cộng 13 Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã được ký kết và ba hiệp định khác đang trong quá trình đàm phán. Điều này có nghĩa là nguồn hàng Việt Nam khi xuất khẩu đến các khu vực quan trọng trên thế giới sẽ được miễn thuế, tạo cơ hội cho việc di dời cơ sở sản xuất sang Việt Nam để mở rộng kinh doanh với các đối tác ở mức chi phí tối thiểu".

Khuyến khích dòng vốn FDI rót vào Việt Nam

Thực tế cho thấy, việc gia tăng trong các khoản đầu tư được chuyển về Việt Nam đã được thực tế chứng minh thông qua những xu hướng đầu tư gần đây. Trong bối cảnh căng thẳng thương mại Hoa Kỳ - Trung Quốc, vốn FDI rót vào Việt Nam vẫn ở mức cao.

Cụ thể, năm 2018, dòng vốn FDI (dựa trên vốn thực tế nhận được) tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước, đạt 19,1 tỷ đô USD. Trong năm 2019, vốn FDI tại Việt Nam đang trên đà vượt mức 20 tỷ đô USD với mức tăng trưởng 4,7%, nhờ vào việc các doanh nghiệp Đa quốc gia chuyển hướng một số hoạt động vận hành để tránh mức thuế cao do xung đột thương mại Hoa Kỳ - Trung Quốc tạo nên. Các nguồn chính của FDI có thể sẽ đến từ Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan và Hồng Kông.

Cùng với sự tăng trưởng của dòng vốn FDI, các hoạt động dự án FDI mới đã được triển khai tại Việt Nam cho thấy tín hiệu ổn định. Dựa vào mức tăng trưởng hiện tại, 2019 có khả năng sẽ là năm tốt nhất trong lịch sử kinh tế Việt Nam. Kể từ đầu năm đến tháng 7, Việt Nam đã ghi nhận 2,064 dự án mới, cao hơn 25% so với cùng kỳ năm 2018, là một năm kỷ lục đối với nền kinh tế Việt Nam.

Cho đến thời điểm này của năm 2019, Trung Quốc là quốc gia rót vốn FDI nhiều nhất vào Việt Nam, chiếm gần 25% tổng dòng vốn. Đây là cột mốc đánh dấu sự thay đổi hoàn toàn so với hai năm trước, khi mà dòng vốn này trước đây bị chi phối mạnh bởi Hàn Quốc và Nhật Bản (dựa trên dữ liệu của vốn đăng ký). Điều này cho thấy những căng thẳng thương mại Hoa Kỳ - Trung Quốc vào nửa đầu năm 2018 có sức ảnh hưởng rõ rệt tới các nhà sản xuất Trung Quốc.

TS Manop Udomkerdmongkol nhận định: "Theo xu hướng chung, việc di dời các cơ sở sản xuất tới những địa điểm thay thế đã tăng cường, không chỉ riêng đến Việt Nam mà còn đến các nước ASEAN khác. Cho đến nay, hai trong số các quốc gia được hưởng lợi lớn nhất từ việc này là Việt Nam và Malaysia, kể từ khi thương chiến Hoa Kỳ - Trung Quốc diễn ra mạnh mẽ trong nửa đầu năm 2018".

Ngoài những lợi thế về chi phí lao động và đất đai thấp giúp thu hút các doanh nghiệp, vị chuyên gia này cũng cho rằng, Việt Nam đang nỗ lực hướng đến sự phát triển bền vững nhằm cải thiện chất lượng tăng trưởng và nâng cao mức sống. Một động lực thúc đẩy quan trọng chính là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Industry 4.0), cuộc cách mạng này sẽ tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động và tăng cường sức cạnh tranh để đẩy mạnh chuỗi giá trị toàn cầu.

Theo ước tính của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), việc thực hiện những cải cách kinh tế theo định hướng Công nghiệp 4.0 có thể giúp GDP Việt Nam tăng trưởng đặt mức từ 28,5 tỷ đến 62,1 tỷ USD, tương đương với tốc độ tăng trưởng GDP 7-16% hàng năm, trước năm 2030.

Bên cạnh đó, nhờ vào sự cải thiện trong năng suất lao động và việc làm, GDP bình quân đầu người của Việt Nam sẽ tăng lên 315-640 USD trước năm 2030 – cao hơn đáng kể so với mức hiện tại là 2,551 USD được công bố vào năm 2018 dựa trên dữ liệu của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF).

Theo dự đoán của chuyên gia ngân hàng UOB, trong thời gian trung đến dài hạn, Việt Nam đang nỗ lực hướng đến sự phát triển bền vững bằng cách theo đuổi xu hướng Công nghiệp 4.0 nhằm cải thiện chất lượng tăng trưởng và nâng cao mức sống. "Về khía cạnh này, Chính phủ đã thể hiện sự kiên định và quyết tâm của mình trong việc hoạch định các chính sách liên quan đến Công nghiệp 4.0, giúp củng cố tiềm năng tăng trưởng của Việt Nam trong những năm sắp tới". - Ông Manop Udomkerdmongkol nói.

Bạn đang đọc bài viết Chuyên gia Thái Lan: Kinh tế Việt Nam phụ thuộc khá lớn vào cầu nội địa! tại chuyên mục Đầu tư của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan@dddn.com.vn, hotline: (024) 3.5771239,