Việt Nam không có điện nguyên tử, thủy điện có khoảng gần 20.000 MW, tuốc bin khí khoảng 10.000 MW, khí hóa lỏng và khí đồng hành số lượng thì hạn chế… Nếu không phát điện bằng nhiệt điện than thì không thể có đủ điện để phục vụ kinh tế - xã hội.

p/Cơ cấu công suất nguồn điện đến năm 2020p/(Nguồn: Quy hoạch Điện VII giai đoạn 2011 - 2020 - EVN)

Cơ cấu công suất nguồn điện đến năm 2020 (Nguồn: Quy hoạch Điện VII giai đoạn 2011 - 2020 - EVN)

Vẫn chiếm vị trí số 1 trong 50 năm tới

Phát triển nhiệt điện than là việc làm tất yếu, bắt buộc và rất khoát phải làm, không có còn đường nào khác. Có điều nếu phát điện bằng nhiệt điện than nhiều người sẽ băn khoăn vấn đề phát thải CO2 và xỉ than. Với xỉ than có thể đưa vào xây dựng công trình, sản xuất vật liệu không nung… Đây là nguồn tài nguyên vô tận chúng ta chưa khai thác và đang để lãng phí.

Không phải bây giờ mà 50 năm nữa nhiệt điện than vẫn chiếm vị trí số 1 trong hệ thống năng lượng Việt Nam. Một là dễ đầu tư. Hai là than chúng ta vẫn có thể khai thác than trong nước và nhập từ nước ngoài.

Kinh tế Việt Nam khi đến những năm 2050, lúc này nền kinh tế đã phát triển dồi dào, đời sống người dân đã khá lên, tăng trưởng của năng lượng sẽ chậm lại và giảm đi chứ không tăng như hiện nay. Yêu cầu đầu tư lúc đó sẽ giảm đi, ví dụ trước đây yêu cầu đầu tư cần khoảng 10 tỷ USD/năm, nhưng sau năm 2050 chỉ cần 1 tỷ USD, thậm chí 500 – 700 triệu USD là đủ. Nhiệt điện than vẫn chiếm vị trí số 1 trong hệ thống năng lượng quốc gia.

Với những nước phát triển cao, mỗi năm họ phát tới 500.000 – 700.000 MW nhiệt điện than, còn Việt Nam còn rất nhỏ bé. Hiện nay, toàn hệ thống điện quốc gia, kể cả thủy điện, nhiệt điện than cũng như khí mới đạt được 47.500 MW; tới năm 2050 phấn đấu đạt trên 129.500 MW.

Nhiệt điện than hiện nay chiếm tỷ trọng 40%, khoảng hơn 20.000 MW, với con số này thì phát thải khí nhà kính cũng chưa đáng lo ngại. Nhưng vì chúng ta đi lên từ một nước nghèo, quá trình đầu tư, xây dựng các nhà máy với công nghệ còn lạc hậu, thường sử dụng lò tự sôi, chất lượng kém thì gây ra phát thải nhiều khí CO2, SO2 và NOx. Ba loai khí này gây ra khí nhà kính.

Đầu tư công nghệ cao để giảm thiểu ô nhiễm

Bây giờ với công nghệ hiện đại hơn thì cần xử lý 2 vấn đề:

Thứ nhất là tro xỉ. Đây là một trong những vấn nạn nhiều nhà máy rất lo lắng. Chúng ta có thể sử dụng xỉ than làm vật liệu không nung, làm móng nhà rất tốt. Nhà nước cần có chủ trương, chính sách khuyến khích vật liệu này.

Thứ hai, để giảm khí C02, SO2 và NOx chỉ có một cách là dùng lò siêu tới hạn. Lò này chỉ có các nước G7 sản xuất được, như Anh, Mỹ, Đức, Nhật Bản.

Hiện nay, một số nhà máy nhiệt điện của Việt Nam như Vũng Áng, Vĩnh Tân đã bắt đầu sử dụng các lò siêu tới hạn của các nước G7 này. Các lò đốt này có 2 đặc điểm. Một là hiệu suất lò rất cao, hiệu suất cao sẽ đốt cháy than kỹ hơn và xỉ than thải ra rất ít. Hai là, các lò siêu tới hạn sẽ khắc phục gần như triệt để không gây ra phát thải CO2, SO2 và NOx.

Nếu không có nhiệt điện than làm trụ đỡ cho hệ thống điện Việt Nam thì sẽ không có gì thay thế. Điện nguyên tử không có, thủy điện hết rồi, tuốc bin khí nhà nước chưa mạnh dạn đầu tư vì giá thành cao. Trong khi môi trường đầu tư năng lượng lại rất khốc liệt, vì giá đầu tư cao, sinh lời khó, thu hồi vốn chậm. Giá năng lượng rất thấp, chưa đến 8 cen/kwh. Với mức giá này không thể khuyến khích được các nhà đầu tư.

Việc chúng ta không thể loại bỏ ngay các nhà máy nhiệt điện than là bằng thực tiễn, không nói bằng lý thuyết hay “hô khẩu hiệu”. 

Bạn đang đọc bài viết Chưa thể loại bỏ nhiệt điện than tại chuyên mục Đầu tư của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan@dddn.com.vn, hotline: (024) 3.5771239,