Trong 10 năm qua do tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu và nhiều nguyên nhân khác nhau, hệ thống Ngân hàng Thương mại Việt Nam có những thời điểm gặp rất nhiều khó khăn.

TS Lê Xuân Nghĩa

TS Lê Xuân Nghĩa

Cụ thể như: Lạm phát phi mã, kinh tế đình đốn, nợ xấu tăng cao, thanh khoản khó khăn và khả năng sinh lời của hầu hết các Ngân hàng Thương mại ở mức thấp.

Mặc dù vậy, hệ thống ngân hàng không chủ trương đóng băng tín dụng như các ngân hàng ở nhiều quốc gia vào thời điểm đó, đặc biệt là đóng băng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trái lại hầu hết các Ngân hàng Thương mại Việt Nam vừa xử lý nợ xấu, vừa tái cơ cấu nợ cho doanh nghiệp và mạnh dạn cho vay mới giúp rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam sống sót, từng bước phục hồi và phát triển trở lại.

Ngoài ra nhiều chính sách lớn của Chính phủ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, hỗ trợ xuất khẩu, hỗ trợ nông nghiệp nông thôn, hỗ trợ phát triển công nghiệp phụ trợ và công nghệ cao, hỗ trợ đóng tàu vỏ thép và thậm chí nhà ở giá rẻ, đều được thực hiện thông qua hệ thống Ngân hàng Thương mại.

Mặc dù chưa có điều kiện đánh giá toàn diện kết quả cụ thể của chính sách này, nhưng có thể khẳng định những thành công của một số chính sách lớn có sự đóng góp quyết định của các Ngân hàng Thương mại, trong đó vai trò tiên phong là các Ngân hàng Thương mại nhà nước và nhiều Ngân hàng Thương mại cổ phần.

Đặc biệt, từ năm 2015 đến nay hệ thống Ngân hàng Thương mại đã có hàng loạt các sáng kiến nhằm cung ứng vốn có hiệu quả cho cộng đồng doanh nghiệp. 

Ví dụ chương trình kết nối Ngân hàng – Doanh nghiệp đã được thực hiện có hiệu quả tại thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành khác. Việc ra đời nhiều trung tâm tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ hay sáng kiến cho vay hộ gia đình và hộ tiểu thương của một số Ngân hàng Thương mại đã tạo điều kiện cho Ngân hàng và Doanh nghiệp gần gũi và hiểu biết lẫn nhau tốt hơn, trên cơ sở đó doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận vốn ngân hàng và ngược lại ngân hàng càng dễ dàng giám sát mục đích, hiệu quả sử dụng vốn vay của Doanh nghiệp.

Vài năm gần đây, đặc biệt là từ khi triển khai Thông tư 39 của Ngân hàng Nhà nước, quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng Thương mại và doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được cải thiện theo hướng cởi mở hơn, gần gũi hơn và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, việc mở rộng tín dụng cho cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho kinh tế hộ gia đình và cho vay tiêu dùng trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt hiện nay giữa Doanh nghiệp với Doanh nghiệp và Ngân hàng với Ngân hàng cũng đặt ra nhiều rủi ro rất đáng quan tâm.

Cụ thể là: Rủi ro về sử dụng vốn sai mục đích; rủi ro về việc sử dụng vốn ngắn hạn đầu tư dài hạn, đặc biệt là bất động sản; rủi ro về việc mở rộng quy mô không phù hợp với nhu cầu thị trường và năng lực quản lý của Doanh nghiệp nhỏ và vừa; rủi ro về quản lý vốn, quản lý tài chính của doanh nghiệp thiếu minh bạch. 

Vì vậy, bên cạnh việc mở rộng tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ các Ngân hàng Thương mại cần có cơ chế và biện pháp kỹ thuật thích hợp để giám sát việc sử dụng vốn vay một cách hiệu quả nhất, tránh lệ thuộc vào quy trình thủ tục đơn thuần ví dụ, hệ số sử dụng công suất thiết bị, định mức tiêu hao nguyên vật liệu và chi phí nguyên vật liệu trên doanh thu, đơn giá tiền lương tiền công và chi phí tiền lương trên doanh thu… Đồng thời, các doanh nghiệp phải báo cáo định kỳ cho ngân hàng về các chỉ tiêu tài chính cơ bản có liên quan đến sử dụng vốn vay.

Điều này vừa giúp cho Ngân hàng quản lý nợ có hiệu quả, đồng thời cũng giúp Doanh nghiệp quản lý vốn vay và tài chính hữu hiệu, tránh những sai lầm đáng tiếc.

Bạn đang đọc bài viết Cần cơ chế giám sát sử dụng vốn vay hiệu quả tại chuyên mục Ngân hàng - Chứng khoán của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan@dddn.com.vn, hotline: (024) 3.5771239,