Các hành vi thỏa thuận nhằm loại bỏ đối thủ bằng các chiến lược không liên quan đến giá

Enternews.vn Vụ United States v. Terminal Railroad Ass'n of St. Louis là một trong những án lệ điển hình về việc ngăn cản việc gia nhập thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới.

Theo đó bối cảnh của vụ việc là có hai mươi bốn tuyến đường sắt hội tụ tại St Louis. Khoảng một nửa trong số này có trạm cuối ở phía Illinois của sông Mississippi. Các tuyến còn lại đóng tại hoặc gần St Louis, trên bờ phía tây. Chi phí xây dựng và bảo trì các cây cầu đường sắt vượt sông Mississippi là rất lớn. Chi phí để tự mỗi hãng đường sắt muốn đi vào hoặc đi qua thành phố bằng chính cầu đường sắt của riêng mình là bất khả thi.

Hiệp hội Đường sắt (TRA) của St. Louis, một trong 38 bị đơn trong vụ việc này, được thành lập năm 1889 và một số công ty đường sắt khác, đã mua lại hàng loạt các công ty khai thác kho vận độc lập ở St. Louis Missouri, để kết hợp và vận hành chúng như một hệ thống thống nhất. TRA đã mua lại St Louis Union Station, cây cầu đường sắt duy nhất hiện có bắt ngang sông Mississippi ở St. Louis.

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Sau đó, có hai công ty khác đã cung cấp phương tiện băng qua sông Mississippi từ phía bờ sông Illinois đến St. Louis: Công ty phà Wiggins. Năm 1890 Merchants Bridge Company đã xây dựng một cây cầu đường sắt thứ hai. Năm 1892, TRA đã giành được quyền kiểm soát cả hai công ty này.

Mười bốn tuyến đường sắt (là thành viên sở hữu TRA) kiểm soát khoảng một phần ba thị phần đường sắt của Hoa Kỳ. Họ đồng ý rằng không có bất kì công ty nào có thể trở thành thành viên của TRA trừ khi được sự nhất trí của các thành viên hiện tại.

Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã nhận định rằng, việc kết hợp này của các doanh nghiệp trong TRA tạo nên tính hiệu quả trong quá trình hoạt động, được coi là mấu chốt của việc kết hợp. Nhưng chính điều này đã làm cho các doanh nghiệp bên ngoài hầu như không thể cạnh tranh được. Chính vì vậy, TRA buộc phải chấp nhận việc cho phép các doanh nghiệp bên ngoài được quyền sử dụng cây cầu với các điều khoản không phân biệt so với các doanh nghiệp đang là thành viên của TRA.

Bản chất của việc thành lập ra TRA là một dạng độc quyền tự nhiên, các doanh nghiệp bên ngoài khi bị từ chối đều phải đối diện với chi phí sản xuất cao hơn. Do đó, các doanh nghiệp trong TRA có thể giảm sản lượng để gia tăng giá bán mà không có sự lo ngại về việc cạnh tranh từ các doanh nghiệp từ bên ngoài.

Trong vụ việc Associated Press v. United States, Associated Press (AP) là một hiệp hội được thành lập bởi 1200 tờ báo. Theo đó, AP sẽ chịu trách nhiệm lấy tin tức, viết bài và chuyển cho mỗi thành viên của nó các bài viết để các thành viên có toàn quyền sử dụng. Một phần công việc này AP sử dụng phóng viên của mình và phần còn lại thì AP mượn phóng viên từ các tờ báo thành viên. Để bảo đảm tính vận hành hiệu quả, AP cũng cử người để xem xét các tin tức mà các tờ báo thành viên phát hành. Đồng thời, các qui định của AP ngăn cấm việc các tờ báo thành viên bán tin tức cho các tờ báo không phải là thành viên của AP. AP cũng đã thực hiện nhiều biện pháp để bảo đảm rằng các tờ báo không phải là thành viên không thể tiếp cận các tin tức của AP cho đến khi các tờ báo thành viên của họ đã công bố các bài viết. Ban quản trị của AP có toàn quyền chấp nhận việc xin gia nhập của các tờ báo khác, với điều kiện là các tờ báo muốn làm thành viên của AP không cạnh tranh với các thành viên hiện hữu. Trên cơ sở đó, tòa tối cao đã tuyên đây là hành vi vi phạm luật Sherman.

Tuy vậy, trên thực tế phán quyết trong vụ Associated Press v. United States cũng vấp phải những tranh luận gay gắt về tính hiệu quả của nó. Trong đó, quan trọng nhất là tòa chưa xem xét hết khía cạnh về tính hợp lí và hiệu quả mà thỏa thuận AP mang lại cho các thành viên của nó. Thông qua việc trao đổi thông tin trong nội bộ các thành viên của AP làm chi phí của các thành viên giảm thiểu, tính hiệu quả được nâng cao. Nói cách khác, bản chất của việc thành lập ra AP là hướng đển việc giảm thiểu sự lãng phí nguồn lực mà vẫn bảo đảm tính hiệu quả của việc đưa tin.

Bình luận về vụ việc này, tác giả Herbert Hovenkamp đưa ra lập luận như sau: Giả sử trên toàn thế giới có 10 thành phố và mỗi thành phố có một hoặc hai tờ báo. Chi phí để một phóng viên thường trú tại mỗi thành phố viết bài mỗi tuần là 100 đô la. Nếu thiếu cơ chế chia sẻ thông tin như AP đang làm, mỗi tờ báo sẽ phải chi trả 1000 đô la/ tuần cho việc có tin tức ở 10 thành phố (mỗi thành phố chi phí là 100 đô la). Giả định rằng, có 8 tờ báo thống nhất rằng họ sẽ chia sẻ thông tin mà họ lấy được từ chính nơi họ đang đặt trụ sở cho bảy tờ báo còn lại. Như vậy, mỗi tờ báo vẫn có được tin tức từ 10 thành phố chỉ với 300 đô la mỗi tuần. Trong đó: 100 đô la cho phóng viên ở trụ sở (để trao đổi và lấy được tin từ 7 thành phố khác), 200 đô la cho 2 thành phố mà cả 8 tờ báo không có trụ sở.

Giả sử tờ báo ở thành phố thứ 9 (#9) muốn gia nhập vào thỏa thuận. Tám tờ báo còn lại sẽ rất vui vẻ nhận lời, vì với việc tờ báo ở thành phố thứ 9 gia nhập, chi phí của 8 tờ báo sẽ giảm đi 100 đô la/ tuần. Không có bất kì tờ báo nào bị tổn thương bởi sự cạnh tranh của tờ báo mới. Đó chính là lí do mà họ sẽ nhận thành viên này.

Nhưng chuyện gì xảy ra, nếu như tờ báo thứ 2 của thành phố thứ nhất (#1) cũng muốn tham gia vào thỏa thuận chia sẻ thông tin? Cần phải thấy rằng các thông tin của thành phố này (#1) đã được tờ báo thứ nhất chia sẻ cho các thành viên còn lại. Việc tờ báo thứ 2 của thành phố thứ nhất (#1) tham gia vào thỏa thuận không mang lại bất kì hiệu quả gì cho các tờ báo đã tham gia thỏa thuận chia sẻ thông tin. Trước khi tờ báo thứ hai tham gia, tờ báo thứ nhất của thành phố #1 tiết kiệm được 700 đô la/ tuần. Nhưng khi tờ báo này tham gia, tờ báo thứ nhất sẽ phải đối mặt với cạnh tranh khốc liệt. Những chi phí tiết kiệm được từ quá trình sản xuất (đưa tin) sẽ chuyển về cho các thành viên của thỏa thuận mà người hưởng lợi trong tường hợp này là các nhà quảng cáo trên báo chí.

Như vậy, United States v. Terminal Railroad Ass'n of St. LouisAssociated Press v. United States đều cùng là những những dạng thỏa thuận ngăn cản việc gia nhập thị trường của các doanh nghiệp khác theo hướng làm cho doanh nghiệp đó không thể gia nhập thị trường hoặc phát triển việc kinh doanh. Nhưng trong hai vụ này, vẫn có sự khác biệt nhất định. Sự khác biệt nhìn nhận ở tác dụng của các thỏa thuận đối với cạnh tranh trên thị trường.

Trong trường hợp của United States v. Terminal Railroad Ass'n of St. Louis, bản chất của vụ này là tồn tại một dạng độc quyền tự nhiên (cụ thể là chi phí xây dựng cầu quá lớn), chính điều đó dẫn đến hệ quả là bất kì sự từ chối giao dịch nào cũng sẽ làm cho doanh nghiệp khác không thể tham gia vào hoạt động vận chuyển trên tuyến đường băng qua sông Mississippi. Chính vì rào cản này sẽ là cơ sở để các doanh nghiệp trong TRA có thể tăng giá mà không lo ngại sức ép cạnh tranh từ bên ngoài. Đây là một dạng thỏa thuận gây tổn hại đến cạnh tranh.

Trong khi đó, bản chất của vụ Associated Press v. United States là thúc đẩy cạnh tranh, thông qua việc gia tăng hiệu quả hoạt động và cắt giảm chi phí sản xuất cho các thành viên. Điều quan trọng là trong vụ AP không tồn tại một dạng độc quyền tự nhiên như trong vụ United States v. Terminal Railroad Ass'n of St. Louis.

Các tờ báo không phải thành viên, khi không được làm thành viên của AP, họ vẫn có thể bằng nguồn lực của mình, cạnh tranh được với các thành viên của AP. Cái ưu thế duy nhất mà thành viên AP có được từ thỏa thuận chia sẻ thông tin bài viết là họ có thể tiết kiệm được chi phí sản xuất. Nhưng chi phí đó, xét về khía cạnh kinh tế là hoàn toàn khác so với việc xây dựng một cây cầu bắt ngang sông Mississippi trong vụ United States v. Terminal Railroad Ass'n of St. Louis.

Tiểu kết

Sức mạnh thị trường chính là yếu tố giúp cho các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh và vị trí độc quyền trên thị trường liên quan có thể thu được lợi nhuận lớn. Các doanh nghiệp trong các thị trường cạnh tranh không hoàn hảo và độc quyền nhóm không có được sức mạnh thị trường như là doanh nghiệp thống lĩnh hoặc độc quyền. Nhưng các doanh nghiệp này vẫn có thể có được sức mạnh thị trường thông qua thỏa thuận thống nhất hành động.

Thông qua các thỏa thuận thống nhất hành động, các doanh nghiệp có thể hành động giống như một doanh nghiệp thống lĩnh thị trường thực sự. Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh này gây nên những tác hại đến cạnh tranh và quyền lợi của người tiêu dùng. Tuy nhiên trong một số trường hợp, dưới những điều kiện nhất định nó cũng có những tác động tích cực. Thông qua việc phân tích tính gây hại và khía cạnh tích cực của các TTSDG để HCCT, sẽ là tiền đề kinh tế để từ đó xác định các tiêu chí miễn trừ đối với các TTSDG để HCCT.

Bằng việc sử dụng công cụ giá, các thỏa thuận HCCT có thể mang lại cho các doanh nghiệp khả năng gia tăng lợi nhuận so với trước khi tiến hành thỏa thuận. Nhưng doanh nghiệp cũng có thể mở rộng thị phần thông qua các chiến lược tẩy chay và bán hàng giá thấp. Nhưng sức mạnh thị trường mà các doanh nghiệp trong nhóm TTSDG để HCCT có được là từ sự thống nhất hành động, về bản chất khác rất nhiều so với sức mạnh thị trường của một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền thật sự.

Cho nên, sẽ là rủi ro cho doanh nghiệp khi chấp nhận hi sinh lợi nhuận hiện tại nhưng kì vọng gia tăng lợi nhuận trong tương lai là không mang tính chắc chắn. Vì vậy, trên thực tế hành vi thỏa thuận bán hàng dưới giá thành toàn bộ để tiêu diệt các đối thủ, xét về khía cạnh kinh tế là không đạt được. Thay vào đó, doanh nghiệp củng cố vị trí của mình trên thị trường liên quan thông qua các công cụ khác không phải là giá cả, mà phổ biến nhất là việc tẩy chay.

Cũng xuất phát từ khía cạnh kinh tế như vậy, pháp luật cạnh tranh của các nước mà điển hình là Hoa Kỳ, không có qui định về hành vi thỏa thuận bán hàng dưới giá thành toàn bộ để tiêu diệt các đối thủ. Thay vào đó, chỉ cần doanh nghiệp có thỏa thuận thống nhất về giá, thì bị coi là hành vi thỏa thuận ấn định giá, mà không quan tâm đến mức giá thấp hay không.

Mời các bạn tham gia vào group Diễn đàn Doanh nghiệp để thảo luận và cập nhật tin tức.
Bạn đang đọc bài viết Các hành vi thỏa thuận nhằm loại bỏ đối thủ bằng các chiến lược không liên quan đến giá tại chuyên mục DIỄN ĐÀN PHÁP LUẬT của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan@dddn.com.vn, hotline: (024) 3.5771239,
Bình luận
Bạn còn /500 ký tự
Xếp theo: Thời gian | Số người thích
 

[BÌNH LUẬN ÁN LỆ VIỆT NAM] Án lệ 16/2017- Công nhận hợp đồng định đoạt di sản do một người thừa kế xác lập

Trường hợp này, Tòa án phải công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hợp pháp và diện tích đất đã chuyển nhượng không còn trong khối di sản để chia thừa kế...