Ba “lỗ hổng” lớn trong quy định về tội rửa tiền

Enternews.vn DĐDN) – Tội phạm rửa tiền khó xử lý bởi hiện nay có 3 “lỗ hổng” lớn trong quy định của pháp luật hình sự về tội rửa tiền: vấn đề xác định lỗi, chủ thể tội phạm và giá trị tiền, tài sản hợp pháp hóa.

(DĐDN) – Tội phạm rửa tiền khó xử lý bởi hiện nay có 3 “lỗ hổng” lớn trong quy định của pháp luật hình sự về tội này: vấn đề xác định lỗi, chủ thể tội phạm và giá trị tiền, tài sản hợp pháp hóa.

Điều 251 Bộ Luật hình sự quy định:Tội hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có hiện quy định dấu hiệu về lỗi bằng cụm từ “biết rõ là do phạm tội mà có”. Quy định như vậy chưa thể giải quyết được vướng mắc: người phạm tội “biết rõ” đến đâu? Biết rõ loại tội phạm nguồn của tài sản bất hợp pháp hay chỉ cần biết tài sản đó có được từ tội phạm chung chung?

Nếu phải chứng minh tội phạm nguồn cụ thể kèm theo việc xử lý người phạm tội rửa tiền thì rất phức tạp và nhiều khi không thể thực hiện được. Hầu hết nguời thực hiện hành vi rửa tiền chỉ có thể nhận thức được tiền, tài sản bất hợp pháp hay tài sản bất minh mà thôi, chứ không thể nhận biết được đó là tài sản do phạm tội mà có. Đây cũng là một trong các lí do mà các vụ án về tội phạm rửa tiền ít bị phát hiện và bị xử lý.

Thực tế, việc Cơ quan điều tra vì không thể chứng minh tội phạm nguồn nên không thể xử lý hình sự về tội rửa tiền đã từng xảy ra.

Còn nhớ trong vụ Huỳnh Thị Huyền Như – vụ án lớn gây chú ý trong thời gian qua, chúng ta suýt có thêm 2 đối tượng bị truy tố về tội rửa tiền. Ban đầu, Cơ quan Điều tra đã khởi tố 2 đối tượng Hùng Mỹ Phương và Nguyễn Thiên Lý về tội danh rửa tiền. Bởi 2 đối tượng này đã có nguồn tiền không hợp pháp (hàng trăm tỷ đồng) để cho Huỳnh Thị Huyền Như vay với lãi suất cao. Tuy nhiên, vì không thể chứng minh được nguồn tiền là do phạm tội nào mà có, Viện KSND Tối cao đã đề nghị chuyển đổi tội danh để xử lý 2 đối tượng này với tội cho vay lãi nặng.

Chuyển tội danh vì không chứng minh được tội rửa tiền? Rõ ràng đã vi phạm nguyên tắc xét xử đúng người đúng tội. Điều này vô hình làm cho tính nghiêm minh của pháp luật hình sự bị giảm.

Đã đến lúc các nhà lập pháp cần hướng tầm nhìn xa hơn: Tại Pháp, tội rửa tiền được quy định có nguồn gốc từ tội phạm nói chung và đặc biệt tại Nga chỉ quy định tội hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm pháp mà có, không đòi hỏi phải là tiền, tài sản do phạm tội mà có. Vậy để tạo thuận lợi cho việc đấu tranh phòng, chống tội phạm rửa tiền, chúng ta không có lý gì lại không nghiên cứu học hỏi “tinh hoa” pháp luật thế giới. Theo đó, trong cấu thành tội rửa tiền không nhất thiết buộc người phạm tội phải “biết rõ là do phạm tội mà có” mà chỉ cần họ biết tài sản đó có được là bất hợp pháp mà thôi. Như vậy mới dễ dàng hơn trong việc khởi tố, truy tố và xét xử loại tội phạm này.

Chuyển sang vấn đề xác định chủ thể, hiện nay có hai luồng ý kiến khác nhau: Chủ thể của tội rửa tiền có thể đồng thời là chủ thể của tội phạm nguồn và ý kiến thứ hai cho rằng chủ thể của tội rửa tiền không thể đồng thời là chủ thể của tội phạm nguồn.

Pháp luật quy định không rõ ràng dẫn đến cách hiểu không thống nhất, do đó trên thực tế có tình trạng không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người tự rửa tiền với lý do: hình phạt của loại tội phạm nguồn dành cho những người này đã rất cao rồi (tù chung thân, tử hình).

Theo nguyên tắc, nếu một người tự mình thực hiện hành vi rửa tiền đối với tài sản mà người đó có được từ hành vi phạm tội đã thực hiên trước đó thì người này phải bị xử lý về cả hai tội danh khác nhau. Như vậy mới không bỏ lọt tội phạm và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả tuyên truyền giáo dục pháp luật.

Liên quan đến vấn đề xác định giá trị tài sản và số lượng tiền hợp pháp hóa, trong tội rửa tiền, tại Điều 3 Thông tư liên tịch số 09/2011 có một phần hướng dẫn như sau: “Tiền, tài sản phạm tội có giá trị rất lớn hoặc đặc biệt lớn” là tiền, tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên; “Thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn” là thu lợi có giá trị từ một trăm triệu đồng trở lên; “Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” là gây thiệt hại có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên.

Thật khó cho các cơ quan tiến hành tố tụng xác định “rất lớn”, “đặc biệt lớn” là bao nhiêu? Và “rất nghiêm trọng”, “đặc biệt nghiêm trọng” có ranh giới như thế nào? Cách nhà làm luật lại gộp chung các trường hợp trên với giá trị tối thiểu tương đương mà không có sự phân chia tách bạch riêng biệt cụ thể thực sự “đánh đố” người áp dụng.

Mặt khác, nếu chỉ coi hành vi rửa tiền là xâm phạm đến trật tự công cộng là chưa phản ánh đúng tính chất của tội phạm. Rửa tiền không chỉ xâm phạm đến trật tự công cộng mà còn xâm phạm đến quan hệ xã hội quan trọng hơn, đó là trật tự quản lý kinh tế và mục đích phạm tội nhằm trốn tránh sự phát hiện và thu hồi lại tài sản và suy cho cùng cũng là nhằm mục đích kinh tế. Vì vậy, cần xếp tội rửa tiền trong nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mới phản ánh đúng bản chất của tội phạm và do đó mới có đường lối xử lý phù hợp.

Dường như các nhà làm luật cũng đã nhận ra bất cập này khi BLHS năm 2015 (hiện đang bị lùi thời hạn có hiệu lực) đã quy định rõ hơn về hành vi rửa tiền tại Điều 324 “…tiền, tài sản do mình phạm tội mà có hoặc biết hay có cơ sở để biết là do người khác phạm tội mà có”. Với sự thay đổi này thì chủ thể tội phạm nguồn sẽ đồng thời phải bị xử lý về tội rửa tiền nếu họ tự mình thực hiện thêm hành vi rửa tiền và việc chứng minh tội phạm có thể dễ dàng hơn so với trước đây.

Trong bối cảnh BLHS 2015 đang tạm hoãn hiệu lực để chỉnh sửa, hi vọng các nhà lập pháp tiếp tục có những tìm tòi, nghiên cứu và tham khảo để đi đến hoàn thiện BLHS nói chung và tội rửa tiền nói riêng. Từ đó góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh, phòng chống tội phạm rửa tiền và các loại tội phạm khác có liên quan trong điều kiện hội nhập kinh tế Quốc tế hiện nay

Điều 251 Bộ Luật hình sự quy định:Tội hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có: Người nào thông qua các nghiệp vụ tài chính, ngân hàng hoặc các giao dịch khác để hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có hoặc sử dụng tiền, tài sản đó vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động kinh tế khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm: a) Có tổ chức; b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; c) Phạm tội nhiều lần. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ tám năm đến mười lăm năm. Người phạm tội còn có thể bị tịch thu tài sản, phạt tiền đến ba lần số tiền hoặc giá trị tài sản được hợp pháp hoá, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Bùi Đình Ứng - Đoàn Luật sư TP Hà Nội

>> Khó xử lý tội rửa tiền

Mời các bạn tham gia vào Diễn đàn chuyên sâu: Doanh nhân, Doanh nghiệp, Diễn đàn bất động sản, Khởi nghiệp, Diễn đàn pháp luật, Diễn đàn Tài chính

Mời các bạn tham gia vào group Diễn đàn Doanh nghiệp để thảo luận và cập nhật tin tức.

Bạn đang đọc bài viết Ba “lỗ hổng” lớn trong quy định về tội rửa tiền tại chuyên mục DIỄN ĐÀN PHÁP LUẬT của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan@dddn.com.vn, hotline: (024) 3.5771239,
Đánh giá của bạn:

 



Bình luận
Bạn còn /500 ký tự
Xếp theo: Thời gian | Số người thích