Ngày 3/9/1945, ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ Việt Nam độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi tiêu diệt giặc đói và giặc dốt. (Thiếu tiền, thiếu giáo viên, nhưng bằng cách huy động toàn dân, từ một quốc gia trên 90% mù chữ, chúng ta đã nhanh chóng trở thành một quốc gia có trên 90% dân số biết đọc, biết viết - một chỉ số ngang với những quốc gia phát triển).

Ngày 3/9/1945, ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ Việt Nam độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi tiêu diệt giặc đói và giặc dốt. (Thiếu tiền, thiếu giáo viên, nhưng bằng cách huy động toàn dân, từ một quốc gia trên 90% mù chữ, chúng ta đã nhanh chóng trở thành một quốc gia có trên 90% dân số biết đọc, biết viết - một chỉ số ngang với những quốc gia phát triển).

Việc trả lời câu hỏi này sẽ giúp chúng ta trả lời một câu hỏi khác: Chất lượng giáo dục của chúng ta chưa tốt ở những điểm nào và vì sao? Chỉ sau khi trả lời được hai câu hỏi này, chúng ta mới có thể hoạch định chiến lược và lựa chọn giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục.

Các bài viết về giáo dục trên báo chí thường không đưa ra tiêu chí thế nào là một nền giáo dục tốt, mà chỉ nói về những mặt mà người ta coi là tồi tệ của nền giáo dục Việt Nam: sự lạc hậu của triết lý giáo dục, tính áp đặt của phương pháp dạy học, sai lầm và tham nhũng trong đầu tư, sự yếu kém về quản lý tài chính, sự xa rời giữa nhà trường với đời sống, nạn dạy thêm học thêm…

Với giáo dục đại học, còn thêm các vấn đề khác như sự yếu kém trong nghiên cứu khoa học, trình độ ngoại ngữ của giảng viên quá thấp, nạn bằng giả, vấn đề thất nghiệp của sinh viên ra trường…

Cơ quan quản lý giáo dục cũng khá lúng túng với những cải cách chương trình, sách giáo khoa, các dục tốt chung chung, mà chỉ có nền giáo dục tốt cho ai, lúc nào, trong điều kiện kiện nào.

Vậy, thế nào là một nền giáo dục tốt?

Gần đây, nhiều trường đại học của chúng ta đang tập trung nỗ lực vào việc cải thiện vị trí trong các bảng xếp hạng. Chúng tôi không phủ nhận tuyệt đối vai trò của các bảng xếp hạng và các tổ chức kiểm định. Các bảng xếp hạng, dù nặng về tiêu chí kỹ thuật như Webometrics hay đầy tính thương mại như QS Stars University Ratings, cũng ít nhiều có ích, chí ít là về mặt quảng bá hình ảnh. Nhưng đó cũng chỉ là một dữ liệu tham khảo.

Giống như điều chúng ta mong muốn nhất ở con cái là ngoan và giỏi, chứ không phải là một danh hiệu nào đó, chúng ta không được đồng nhất chất lượng giáo dục với việc đáp ứng những tiêu chí máy móc của một bảng xếp hạng hay một tổ chức kiểm định nào đó. Bởi lẽ, không có nền giáo dục tốt chung chung, mà chỉ có nền giáo dục tốt cho ai, lúc nào, trong điều kiện kiện nào.

Nền giáo dục tốt cho Việt Nam, theo chúng tôi, phải hội đủ ba tiêu chí: Thứ nhất, đáp ứng được nhu cầu hiện tại của đất nước; Thứ hai, đáp ứng được khát vọng phát triển của dân tộc trong tương lai; Thứ ba, khả thi trong hoàn cảnh kinh tế, xã hội của đất nước.

Tiêu chí thứ nhất đòi hỏi chúng ta phải có quan điểm cụ thể và lịch sử trong  cách tiếp cận. Các nền giáo dục Hoa Kỳ hay Singapore là những nền giáo dục  tốt, nhưng chưa chắc đã tốt cho Việt Nam. Hoa Kỳ là một nước phát triển cao,  có nền kinh tế tri thức hậu công nghiệp, dựa trên nền tảng dịch vụ và công nghệ cao, trong khi Việt Nam là một nước đang phấn đấu để công nghiệp hóa, với nền kinh tế năng suất thấp, đa số người dân lao động nông nghiệp hoặc gia công đơn giản.

Sự khác biệt với Singapore cũng rất lớn. Singpore là một thành phố cảng, với diện tích chỉ lớn hơn đảo Phú Quốc đôi chút, nhưng lại cực kỳ thuận lợi về hàng hải, hàng không, nên thiên về phát triển dịch vụ, du lịch và khai thác thế mạnh địa chính trị trong giao lưu quốc tế.

Trong khi đó, Việt Nam là một nước tương đối lớn, có địa hình phong phú, dân số đông, với nhiều vấn đề phức tạp do chiến tranh và các yếu tố lịch sử khác để lại.

Rõ ràng, nhiệm vụ và những vấn đề đặt ra đối với nền giáo dục Việt Nam phải khác: mặc dù có những phần chung, những kiến thức cần thiết cho người làm vườn phải khác kiến thức dành cho các chuyên gia hàng không vũ trụ và các hoa tiêu hàng hải.

Sinh viên khoa Công nghệ Hóa, Đại học Công nghiệp Hà Nội với nghiên cứu khoa học ứng dụng xử lý nước thải xỉ mạ từ bùn đỏ Tây Nguyên.

Sinh viên khoa Công nghệ Hóa, Đại học Công nghiệp Hà Nội với nghiên cứu khoa học ứng dụng xử lý nước thải xỉ mạ từ bùn đỏ Tây Nguyên.

Tiêu chí thứ hai đòi hỏi chúng ta phải có tầm nhìn dài hạn. Mặc dù có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các mục tiêu trước mắt, nền giáo dục quốc dân phải có khả năng phát triển cùng nhịp với sự phát triển của đất nước và khả năng hội nhập nhanh chóng vào nền giáo dục thế giới trong tương lai.

Điều này giống như khi ta xây dựng một con đường. Vì nhu cầu còn thấp, nguồn vốn ít, ta chỉ cần làm một con đường nhỏ, chất lượng tốt. Nhưng cần phải dành sẵn một dải đất bên cạnh để có thể mở rộng khi cần. Muốn vậy, chúng ta có một triết lý giáo dục đúng đắn, dựa trên ba nhiệm vụ cốt lõi của mọi nền giáo dục, đó là đào tạo ra: Con người lao động; Con người yêu nước và Con người tự do (con người nhân loại). Trong ba mục đích này, mục đích thứ nhất là mục đích có tính lịch sử và thực tiễn cao nhất, cần được điều chỉnh theo thực tiễn cuộc sống.

Tiêu chí thứ ba đòi hỏi chúng ta phải có cách tiếp cận thực tế. Chúng ta không cần và cũng không thể sao chép y nguyên mô hình đại học Harvard hay Oxford. Là một nước còn nghèo, có truyền thống văn hóa khác hẳn, chúng ta không thể có nguồn lực tài chính, con người và cả thời gian để sao chép như vậy. Một nền giáo dục tốt phải có một mô hình khả thi trong điều kiện cụ thể.

Một ví dụ xuất sắc là nền giáo dục của Chính phủ Hồ Chí Minh sau Cách mạng tháng Tám. Ngày 3/9/1945, ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ Việt Nam độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi tiêu diệt giặc đói và giặc dốt. Thiếu tiền, thiếu giáo viên, nhưng bằng cách huy động toàn dân, từ một quốc gia trên 90% mù chữ, chúng ta đã nhanh chóng trở thành một quốc gia có trên 90% dân số biết đọc, biết viết - một chỉ số ngang với những quốc gia phát triển. Từ chỗ chỉ có một trường đại học với số sinh viên ít ỏi, chúng ta hiện có hàng trăm trường đại học, hàng triệu người tốt nghiệp đại học và hàng ngàn thạc sĩ, tiến sĩ.

Hoạt động của sinh viên CLB Nghiên cứu khoa học - Khoa Công nghệ kỹ thuật Điện Điện tử, trường Đại học Đông Á.

Hoạt động của sinh viên CLB Nghiên cứu khoa học - Khoa Công nghệ kỹ thuật Điện Điện tử, trường Đại học Đông Á.

Vậy tại sao ngày nay, trong điều kiện thuận lợi hơn nhiều, nền giáo dục lại rơi vào khủng hoảng?

Một trong những lý do quan trọng nhất là sự trì trệ của ngành giáo dục trong khi hoàn cảnh đất nước và thế giới đã thay đổi. Thêm nữa, khi nhận ra sự chậm trễ đó, chúng ta lại mắc một sai lầm khác, đó là chạy theo các mô hình xa lạ.

Theo chúng tôi, công cuộc cải cách giáo dục của chúng ta chỉ có thể thành công nếu đáp ứng được bốn yêu cầu, mà tôi tóm tắt bằng bốn chữ “thật”.

Thứ nhất là “nhìn thật”: phải nhìn thẳng vào thực tiễn, chứ không phải là xuất phát từ ước muốn hay lý thuyết xa xôi.

Thứ hai là “nghĩ thật”: phải phân tích thực tiễn một cách khách quan, khoa học.

Thứ ba là “nói thật”: Phải trao đổi thẳng thắn cởi mờ và thành thật về các vấn đề thực tiễn, từ đó tìm ra được con đường phù hợp, tối ưu để phát triển nền giáo dục nước nhà.

Thứ tư là “làm thật”: Phải giải quyết vấn đề một cách thật sự, triệt để, chứ không nửa vời.

Tóm lại, bí quyết của sự phát triển là xóa bỏ sự dối trá trong cách nhìn, cách nghĩ, cách nói và cách làm.

Bạn đang đọc bài viết [VIỆT NAM HÙNG CƯỜNG] Bốn chữ “THẬT” trong cải cách giáo dục tại chuyên mục Tâm điểm của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan@dddn.com.vn, hotline: (024) 3.5771239,