(DĐDN) - Tại buổi tọa đàm định hướng sửa đổi Nghị định 109/2010/NĐ- CP do VCCI và VEPR vừa tổ chức, các DN và chuyên gia đều khẳng định Nghị định này đang "trói chân" các doanh nghiệp kinh doanh, xuất khẩu gạo.

Công ty TNHH Cỏ May (Đồng Tháp) từng được đối tác nước ngoài hỏi mua gạo nhưng từ chối vì không có giấy phép xuất khẩu.

Điều đáng nói, tại tọa đàm ông Ngô Văn Nam, Tổng Giám đốc Công ty TNHH ADC, tiết lộ chi phí để được cấp giấy phép kinh doanh xuất khẩu gạo là không dưới 20.000 USD.

Giấy phép cần hơn… gạo ngon

Cách đây gần 3 năm, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Cỏ May (Đồng Tháp) tìm được đối tác nhập khẩu gạo tại thị trường Singapore. Tuy nhiên, khi ký hợp đồng xuất khẩu, Cỏ May đã bị đối tác Singapore từ chối vì cho rằng doanh nghiệp này chỉ là “cò,” do không có giấy phép xuất nhập khẩu trực tiếp. Điều này bắt nguồn từ việc Cỏ May không đủ điều kiện về kho chứa theo quy định tại Nghị định 109/2010/NĐ-CP của Chính phủ về kinh doanh xuất khẩu gạo nên không được cấp phép xuất khẩu. Để giải quyết bài toán này, Cỏ May sẽ phải thuê một doanh nghiệp có kho, nhà máy xay xát đủ tiêu chuẩn quy định để thông qua đó xuất khẩu. Việc này đã khiến gạo xuất khẩu của Cỏ May đội chi phí thêm 2 USD/tấn.Chưa hết, công ty này còn phải sang Singapore lập một công ty lấy tên Cỏ May Singapore và nhập gạo của chính mình, nhưng qua một đối tác ủy thác xuất khẩu.

Chính vì vậy, con số 20.000 USD của ông Nam xem ra còn rẻ chán. Nhưng không chỉ có thế, Đại diện Công ty TNHH ADC (TP HCM) còn kể câu chuyện của chính doanh nghiệp là xây dựng được vùng nguyên liệu 35.000 ha với 16.000 nông dân, có hệ thống xay xát, sơ chế quy mô lớn nhưng vẫn không xin giấy phép xuất khẩu. Lý do là mỗi lần xin là mất “mấy chục ngàn đô”, rất lãng phí nên DN xuất gạo qua một DN đã có giấy phép bởi khi giấy phép hết hạn, xin gia hạn là lại tốn tiền. Mỗi lần xuất khẩu, DN lại khổ với thủ tục hành chính, phải tuyển thêm người để lo các loại báo cáo.

“Mỗi lần xin giấy phép xuất khẩu gạo tốn cả mấy chục ngàn USD, thậm chí để có được một giấy phép xuất khẩu gạo phải tốn 20.000 USD. Đó là chưa kể để đủ điều kiện xuất khẩu gạo, mỗi ngày công ty phải báo cáo số liệu cho cơ quan chức năng, rằng xuất khẩu được bao nhiêu, tồn kho bao nhiêu… Những việc này rất tốn thời gian khiến công ty phải tuyển thêm người chỉ để làm báo cáo” - ông Nam nói.

Cũng tại buổi tọa đàm, nhiều ý kiến cho rằng Nghị định 109 đưa ra những quy định về điều kiện trở thành một doanh nghiệp xuất khẩu gạo đó là có ít nhất một kho chuyên dùng với sức chứa tối thiểu 5.000 tấn thóc và có ít nhất một cơ sở xay xát gạo với công suất tối thiểu 10 tấn thóc/giờ.

Điều này đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp liên kết chặt chẽ với nông dân, sản xuất ra các sản phẩm có thương hiệu nhưng không đáp ứng các tiêu chuẩn trên sẽ không được xuất khẩu gạo.

Lấy hướng dẫn “ghè chân” DN

Không chỉ vấn đề về “giấy phép”, chính sách xuất khẩu gạo của Việt Nam còn tạo ra nhiều “bó buộc” khác về đầu ra cho doanh nghiệp tư nhân.

Ông Nam kiến nghị với thị trường tập trung nên tạo cơ chế cho DN đấu thầu thay cho việc cấm DN tham gia, sau đó nhận “phân bổ” lại từ các DN lớn. Điều này dẫn đến hợp đồng giá tốt thì những người có trách nhiệm chia hết cho các DN sân sau, còn hợp đồng lỗ thì DN bên ngoài phải nhận để đủ chỉ tiêu xuất khẩu 10.000 tấn/năm nhằm duy trì giấy phép.

Đối với vùng nguyên liệu, bà Đặng Thị Liên, Giám đốc Công ty TNHH Lương thực Thực phẩm Long An, đề nghị chỉ nên quy định chung, không quy định diện tích cụ thể để DN chủ động ứng phó với thị trường. “Hiện nay, đối tác yêu cầu cao về chất lượng và truy xuất được nguồn gốc gạo nên DN phải đáp ứng, không cần quy định cứng, làm khó DN. Hiện tại, nếp xuất sang Đài Loan, khi không phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, họ mới trả tiền. Do đó, muốn xuất được hàng, DN phải quy hoạch vùng nguyên liệu, quản lý việc cách ly thuốc bảo vệ thực vật để tránh thiệt hại do bị hủy hoặc trả hàng” - bà Liên phân tích.

Bà Nguyễn Thị Hồng Minh, nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy sản, cho rằng bài học của ngành thủy sản là để thị trường điều tiết. Trước đây, nhà nhập khẩu chỉ kiểm tra nhà máy, nay mở rộng thêm vùng nguyên liệu. Không chỉ các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm, nhà nhập khẩu còn quan tâm đến trách nhiệm xã hội, môi trường… Vì vậy, DN phải tuân theo nếu muốn bán được hàng. Đối với các điều kiện về cơ sở vật chất, DN có thể thuê ngoài, thể hiện tính chuyên môn hóa để DN tập trung vào lĩnh vực có thế mạnh.

Đồng tình, theo TS Nguyễn Đức Thành, Nghị định 109 ra đời trong bối cảnh thế giới thiếu lương thực, khác với hiện nay là cung đã vượt cầu nên cần thay đổi. Nếu không, ngành gạo sẽ tiếp tục chạy theo số lượng, giá bán thấp. Việc sửa đổi nên hướng theo mục tiêu tạo điều kiện cho DN tiếp cận thị trường, khuyến khích sự sáng tạo, tuy sản lượng ít nhưng giá trị gia tăng cao mới hướng được nền sản xuất từ lượng sang chất.

Từ thực tế đó, VEPR đề xuất bãi bỏ các điều kiện về việc doanh nghiệp xuất khẩu gạo phải có kho, cơ sở xay xát thóc, gạo cũng như quy định về địa điểm đặt kho, máy xay xát và việc phải duy trì dự trữ lưu thông tối thiểu tương đương 10% số lượng gạo mà thương nhân đã xuất khẩu trong sáu tháng trước đó.

VEPR cũng đề xuất bãi bỏ giá sàn xuất khẩu hoặc giá sàn chỉ có tính chất trao đổi nội bộ trong hiệp hội; bãi bỏ việc xuất khẩu gạo tại thị trường tập trung; bãi bỏ các điều kiện giao hàng xuất khẩu…

Tuy nhiên, các chuyên gia kinh tế cũng cảnh báo việc bãi bỏ hoàn toàn các điều kiện kinh doanh có thể khiến ngành gạo rơi vào hỗn loạn do ai cũng có thể tham gia và tranh nhau hạ giá. PGS-TS Trần Tiến Khai, Trường ĐH Kinh tế TP HCM, lưu ý tự do là tốt cho cạnh tranh nhưng cần quan tâm đến bài học của cá tra, tôm, thanh long,... khi giá xuất khẩu ngày càng giảm.

Trong khi đó, ông Võ Hùng Dũng, Giám đốc VCCI Chi nhánh tại Cần Thơ, lại cho rằng không có nghiên cứu đáng tin cậy để đổ cho DN nhỏ trong việc phá giá, DN lớn phá giá mới ảnh hưởng đến thị trường. Do đó, nên tạo điều kiện cạnh tranh bình đẳng, DN nào vi phạm thì phạt, không phân biệt lớn nhỏ.

Song Nhi