(DĐDN) - Đề án “Đưa lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật đi làm việc ở nước ngoài giai đoạn 2017-2020 và định hướng đến năm 2025” đang được Cục quản lý lao động ngoài nước xây dựng trình Chính phủ. Thông tin này được nhiều người quan tâm vì… hơi bất ngờ!

Năm 2016, hơn 21.000 người dự thi tiếng Hàn để chọn ra 2.100 người được sang Hàn Quốc làm việc. Ảnh: Nhị Kiều.

Thứ nhất: Bất ngờ vì vui. Vui vì đây là cơ hội không thể tốt hơn để “tiêu thụ” hơn 200.000 cử nhân, thạc sỹ đang thất nghiệp, cơ hội ngàn vàng để kiếm được số lương vài chục triệu mỗi tháng. Người Việt xuất khẩu lao động ở trình độ phổ thông qua các nước Nhật, Hàn, Malaysia, Arap…xưa nay đã được coi là miền đất hứa, không ít trong số đó đã đổi đời nhờ những năm tháng tích cóp, dành dụm bên xứ người, nhưng cũng không ít trường hợp đau buồn, đánh mất hình ảnh đất nước.

Nếu người lao động Việt Nam có bằng cấp được trọng dụng đúng vị trí, sở trường được đào tạo thì đây là điều quá tuyệt vời, sẽ xóa tan những chỉ trích nào là cử nhân Việt thiếu sáng tạo, thụ động, yếu kỹ năng mềm, không đáp ứng được yêu cầu công việc…Tuy nhiên hiện thực này mới ở dạng khả năng, đặt hoàn toàn vào chữ “nếu…”

Thứ hai: Bất ngờ vì buồn. Thật sự quá buồn nếu cử nhân đại học, cao đẳng, thậm chí thạc sỹ Việt Nam sang nước bạn chỉ để làm những công việc phổ thông chân tay, điều này chẳng có gì lạ bởi tấm bằng cử nhân ở Việt Nam hiện nay quá rẻ mạt, đào tạo một đằng làm một nẻo, đa số học xong không làm được việc…

Cậu bạn tôi tốt nghiệp loại ưu một trường kỹ thuật có tiếng trong nước, sau khi công ty Nhật mời về làm việc phải mất thêm hai năm học lại hoàn toàn, quá trình học ở nền giáo dục hàng đầu mới thấy kiến thức của mình đã quá lạc hậu, hầu hết thiếu tính thực tiễn. Nói vậy để thấy rằng “cửa” cho cử nhân Việt tung hoành ở khu vực đã rất khó chứ đừng nói tầm châu lục.

Lý do tiếp theo để buồn và lo là thái độ lao động của người Việt, theo thống kê năng suất lao động của Việt Nam năm 2015 đạt 3.660 USD, bằng 4,4% của Singapore, tức là mỗi người Singapore làm việc có năng suất bằng 23 người Việt cộng lại. Chỉ bằng 17,4% của Malaysia, 35,2% của Thái Lan, 48,5% của Philippines và 48,8% của Indonesia.

Rõ ràng năng lực làm việc của chúng ta thua hẳn các nước trong khu vực, đó là chưa kể giáo dục đại học ở Việt Nam chưa thể ngang tầm với Singgapore, Malaysia, Thái Lan, thậm chí cả Philippine thì cử nhân Việt tất nhiên yếu thế so với cử nhân nước bạn trong cạnh tranh vị trí việc làm, ít nhất là khả năng sử dụng tiếng Anh.

Viễn cảnh này cho thấy không nhiều lao động có bằng cấp từ Việt Nam có thể cạnh tranh để giành vị trí cao trong các chuỗi sản xuất và con đường xuất khẩu lao động sẽ lại quay về với truyền thống là đảm nhiệm các công việc giản đơn, chân tay. Khả năng này rất dễ xảy ra, và đây sẽ là cơn đau chưa biết khi nào dứt của giáo dục đại học, sự lãng phí tiền bạc công sức của hàng trăm nghìn người vì giấc mơ đổi đời từ giảng đường đại học.

Tuy nhiên, thà buồn đau nhưng đau một lần rồi thôi, con đường xuất khẩu lao động cũng là hướng đi không quá tồi, còn hơn kéo dài chuỗi ngày thất nghiệp và ước mơ viễn vông chỉ bồi đắp thêm sự bế tắc, bất mãn. Nhiều người bạn của tôi vẫn an cư lạc nghiệp từ số vốn tích cóp được trong mấy năm bôn ba xứ người.

Cần nhận ra đây là bài học không thể đau hơn để những người làm chính sách giáo dục, thêm một lần nữa rút ra bài học kinh nghiệm xương máu; phải chấm dứt đào tạo tràn lan, tập trung vào chất lượng, gắn chặt thị trường lao động, nhanh chóng thực hiện quy hoạch lại hệ thống các trường đại học, cao đẳng, mạnh dạn tự chủ đại học…

Trương Khắc Trà