(DĐDN) – Tham gia những sân chơi toàn cầu, đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 18/3/2014 về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia… là những yếu tố giúp Việt Nam tăng 12 bậc, vươn lên đứng thứ 56/140 trong bảng xếp hạng quốc gia về cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới.

doanh nghiêp

Thứ hạng về năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam liên tục tăng trong những năm gần đây

Xếp thứ 56/140 quốc gia về cạnh tranh toàn cầu

Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) vừa công bố báo cáo về năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCR) 2015-2016. Việt Nam được ghi nhận có sự tiến bộ đáng kể so với năm ngoái khi tăng 12 bậc. Cụ thể, trong bảng xếp hạng, Việt Nam đứng ở vị trí 56, ngay sau Ấn Độ (năm ngoái, Việt Nam đứng ở vị trí thứ 68), thứ hạng này đã liên tục được cải thiện từ năm 2012. GCR chấm Việt Nam đạt 4,3 điểm về năng lực cạnh tranh. Quốc gia đạt điểm cao nhất là Thụy Sỹ với số điểm là 5,76, và đứng áp chót là Guinea với số điểm 2,84.

Tại khu vực Đông Nam Á, Việt Nam đứng ở vị trí thứ 6 sau Singapore (số 2), Malaysia (18), Thái Lan (32), Indonesia (37), và Philippines (47). Tuy vậy, Việt Nam vẫn đứng ở vị trí cao hơn so với một số nước cùng khu vực khác như Lào (83), Campuchia (90), hay Myanmar (131).

Các tiêu chí đánh giá của WEF được chia thành 3 nhóm chính, gồm: Yêu cầu căn bản (kinh tế vĩ mô, giáo dục cơ bản - y tế, cơ sở hạ tầng, thể chế); yếu tố nâng cao (giáo dục và đào tạo bậc cao, độ hiệu quả trên thị trường lao động, hiệu quả trên thị trường hàng hóa, sự phát triển của hệ thống tài chính, trình độ công nghệ, quy mô thị trường) và các yếu tố về tinh vi – đột phá (sự tinh vi của hệ thống doanh nghiệp, khả năng đột phá).

Trong 3 nhóm tiêu chí này, Việt Nam được chấm điểm cao nhất ở yêu cầu căn bản, với 4,54 điểm, xếp thứ 72. Một số tiêu chí nhỏ cũng có sự cải thiện như kinh tế vĩ mô (hạng 69), độ hiệu quả của thị trường hàng hóa (83), cơ sở hạ tầng (76), quy mô thị trường (34) và trình độ công nghệ (92).

Theo GCR, năng lực cạnh tranh là một “tập hợp thể chế, chính sách và nhân tố quyết định mức năng suất của một nền kinh tế. Năng suất này quyết định mức độ thịnh vượng mà một quốc gia có thể đạt được”. Bản báo cáo được thực hiện dựa trên 113 yếu tố khác nhau, nằm trong 7 trụ cột bao gồm thể chế, cơ sở hạ tầng, môi trường kinh tế vĩ mô, y tế và giáo dục cơ bản, giáo dục bậc cao và đào tạo, hiệu quả thị trường hàng hóa, hiệu quả thị trường lao động, mức độ phát triển của thị trường tài chính, mức độ sẵn sàng công nghệ, quy mô thị trường, mức độ phát triển doanh nghiệp và năng lực sáng tạo.

Chấp nhận những cuộc chơi

Kết quả trên đã phản ánh những nỗ lực của Việt Nam khi tham gia những sân chơi quốc tế. Kể từ khi chính thức được công nhận là thành viên của tổ chức Thương mại thế giới WTO vào ngày 11/1/2007, tới nay, Việt Nam đã ký 8 Hiệp định Thương mại Tự do (FTA); hàng chục hiệp định thương mại và đầu tư song phương với các nước như Việt Nam - Ấn Độ; Việt Nam - Hà Lan; Việt Nam - Hoa Kỳ; Việt Nam - Indonesia; Việt Nam - Đức… Việt Nam là nước đầu tiên trong ASEAN kết thúc đàm phán và dự kiến ký Hiệp định FTA với Liên minh Châu Âu (EU) vào cuối năm 2015. Bên cạnh đó, Việt Nam đã cơ bản kết thúc đàm phán với 11 nước đối tác về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Việt Nam cũng đang cùng các nước thành viên nỗ lực hoàn thành mục tiêu xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN vào cuối năm 2015. Việc tham gia những sân chơi toàn cầu này bắt buộc chính các cơ quan quản lý cũng như các doanh nghiệp phải tự đổi mới mình để có thể đáp ứng được những yêu cầu quy định chuẩn mực quốc tế.

images843472_1_nhat

Các Bộ, ngành cần cải cách mạnh mẽ hơn nữa

Ngoài ra, việc tăng thứ hạng liên tục phần nào phản ánh nỗ lực của chính phủ, nhất là vừa qua, khi chính phủ ra Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 18/3/2014 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, nhằm cải thiện trực tiếp vào thủ tục hành chính cũng như xây dựng những bộ luật liên quan tới việc kinh doanh như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư. Sau 6 tháng ban hành Nghị quyết 19, các bộ, cơ quan và địa phương đã có kế hoạch hành động, triển khai tích cực nghị quyết này và thu được những kết quả nhất định như: các thủ tục hành chính được cải cách mạnh mẽ, giảm thiểu các thủ tục thuế và hải quan, giảm thời gian nộp thuế và thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu; đơn giản hóa thủ tục hành chính cho doanh nghiệp; nâng cao hiệu quả thực thi các chính sách…. Những điều này đã giúp cải thiện rõ rệt môi trường đầu tư tại Việt Nam.

Tuy nhiên, dù thăng hạng liên tục trong những năm qua nhưng Việt Nam vẫn chỉ ở khoảng trung bình của danh sách. Để tiếp tục cải thiện vị trí trên bảng xếp hạng của WEF, thu hút thêm các nhà đầu tư, chính phủ cần tích cực hơn nữa trong việc chỉ đạo triển khai nghị quyết 19; các Bộ, cơ quan quản lý nhà nước nghiên cứu áp dụng phương pháp quản lý rủi ro trong quản lý, kỹ thuật công nghệ; điện tử hóa thủ tục hành chính, kỹ thuật công nghệ; kết nối chia sẻ thông tin giữa các cơ quan, tổ chức quản lý, kỹ thuật công nghệ để giảm thiểu giấy tờ, rút ngắn thời gian thực hiện các thủ tục hành chính trong lĩnh vực xuất nhập khẩu.

Về phía cộng đồng doanh nghiệp, các doanh nghiệp trong nước cần có một tâm thế chủ động: biết chính xác, nghĩ chủ động và làm sáng tạo; chủ động cập nhật các thông tin về hiệp định cũng như tìm hiểu những cơ hội mà hiệp định mang lại để chủ động phát triển; chủ động chuẩn bị chu đáo nhằm cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu có mức giá ngày càng giảm bằng cách xây dựng các yêu cầu kỹ thuật tối thiểu; chủ động nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng sản phẩm, dịch vụ bán hàng, chiến lược kinh doanh cho phù hợp...; chủ động tiếp cận thị trường để tìm ra cách thức vận chuyển, lưu thông hàng hóa đạt hiệu quả nhất; Doanh nghiệp phải luôn chủ động sáng tạo. Khi doanh nghiệp bước vào hội nhập, việc cạnh tranh với những đối thủ khác nhau thì cần phải linh hoạt, có một lối đi riêng, một phương pháp riêng và luôn tạo tâm thế trong cuộc cạnh tranh đó.

Hoàng Sang