Tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2016 và triển khai nhiệm vụ năm 2017, Tập đoàn Điện lực Việt Nam EVN cho biết, một số chi phí đầu vào của sản xuất điện đã tăng liên tục từ năm 2015 nhưng chưa được cân đối trong giá điện, đặc biệt là giá than đầu vào. Riêng giá than đầu vào tăng thêm 7% từ 24/12/2016 sẽ làm chi phí đội lên hơn 4.692 tỷ đồng.

Tổ công tác của Thủ tướng kiểm tra, làm việc với Tập đoàn Than, Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) ngày 19/6.

TKV cần… tái cơ cấu

Vừa qua, Tập đoàn EVN có khảo sát và chọn lựa một vài doanh nghiệp trong nước được phép khai thác, kinh doanh thương mại than, và có nguồn than hợp pháp với giá thành cạnh tranh, đưa vào thí điểm cấp than cho một số các nhà máy nhiệt điện thuộc Tập đoàn Điện Lực Việt Nam EVN. Tuy nhiên, TKV đã đưa ra các lý do chưa đủ thuyết phục như sẽ mất 4000 lao động và hàng tồn kho 9,3 triệu tấn, khi nói đến cơ chế cạnh tranh hiện tại, cũng như cán cân cung cầu của thị trường, gây ra không ít nguồn dư luận trong cộng đồng.

Tại buổi làm việc với EVN, Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP Mai Tiến Dũng dẫn đầu tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ xuống kiểm tra Tập đoàn công nghiệp Than -Khoáng sản Việt Nam TKV. Bộ trưởng Mai Tiến Dũng cũng đã chỉ ra và nhấn mạnh TKV cần rà soát lại 30 văn phòng, chi nhánh đại diện, 47 công ty thành viên bởi chi phí hành chính cho bộ máy hiện rất lớn.

Giải thích về con số 4000 lao động mà TKV lo ngại sẽ mất việc, một số chuyên gia trong ngành đã cho biết do phát triển “nóng” đa ngành nghề từ hơn 10 năm về trước, nên TKV không tránh khỏi những hệ lụy phải giải quyết những tồn tại, do sự “phình to” về số lượng các công ty dịch vụ, với một lượng lao động đông đảo tại những đơn vị này. Hiện tại, TKV đã có đội ngũ lên tới trên 11 vạn lao động, trong đó 8 vạn người liên quan trực tiếp tại Quảng Ninh. Theo ông Lê Thanh Xuân - Chủ tịch Công đoàn TKV, đứng trước khó khăn do tiêu thụ và thực hiện tái cơ cấu tập đoàn trong năm trước 2016, TKV đã yêu cầu các đơn vị trực thuộc tiết giảm thêm 3.600 lao động chủ yếu làm công tác quản lý, phục vụ và phụ trợ. Trước đó trong năm 2015, ngành than đã giảm 5.656 lao động.

Lãnh đạo Vinacomin cho biết, việc than tồn kho hơn 9,3 triệu tấn và EVN dự kiến giảm mua 2 triệu tấn than khiến 4.000 công nhân ngành than có nguy cơ mất việc.  

Và giảm lượng tồn kho

Về lượng hàng tồn kho hơn 9 triệu tấn than một số chuyên gia đầu ngành cũng đã có những ý kiến giải thích về con số trên.

Theo TS Nguyễn Thành Sơn, nguyên Giám đốc Ban quản lý các dự án than đồng bằng sông Hồng thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than, Khoáng sản Việt Nam khẳng định có nhiều lý do dẫn đến tình trạng hơn 9 triệu tấn than tồn kho, nhưng lý do chính là Việt Nam có quá nhiều chủng loại than được sản xuất ra (được hạch toán vào giá thành) nhưng có chất lượng thấp, không phù hợp với nhu cầu của thị trường. Lẽ ra, than có chất lượng thấp đến mức thị trường không chấp nhận thì phải được coi là “phế phẩm”, không được coi là “sản phẩm” và không được hạch toán vào giá thành hàng năm.

Lý do thứ hai, TKV ngoài việc khai thác và kinh doanh còn phải dự trữ đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Hiện các đơn vị dùng than trong nước gồm cả EVN đang có nhu cầu tiêu thụ trung bình khoảng hơn 4 triệu tấn/tháng, vì thế lượng hàng tồn 9,3 triệu tấn mới dự phòng được khoảng 2 tháng. Mặt khác, do đặc điểm của nước ta, mỏ than tập trung chủ yếu thuộc địa bàn tỉnh Quảng Ninh, đây được xem là rốn mưa vào mùa mưa, do đó điều kiện khai thác chịu ảnh hưởng rất nhiều về thời tiết cả khai thác lộ thiên lẫn khai thác hầm lò. Do đó để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia thì TKV cần trữ một lượng hàng nhất định để dự phòng sự cố bất khả kháng do điều kiện thời tiết.

Lý do thứ ba giải thích về lượng hàng tồn kể trên được PGS.TS Trương Duy Nghĩa thừa nhận, than Việt Nam chủ yếu là than antraxit khó cháy (than đá già nhất). Như mỏ than Vàng Danh, có những vỉa mà chất bốc chỉ dưới 2%, còn than phổ biến của chúng ta chất bốc cũng chỉ khoảng 6%. Trong khi đó than á bitum của Indonesia, chất bốc lên tới 50%. Chất bốc cao nên dễ cháy kiệt dẫn đến hiệu suất tăng lên. Hơn nữa, than antraxit của Việt Nam hiện nay hàm lượng cacbon chưa cháy còn lại trong tro tương đối lớn, phổ biến từ 15-20%. Cho nên tro đen, không có màu trắng. Trong khi đó nếu đốt than á bitum nhiều chất bốc nên dễ cháy kiệt, hàm lượng cacbon còn lại trong tro rất bé.