VCCI vừa có văn bản trả lời Công văn số 6202/TCHQ-GSQL của Tổng cục Hải quan về việc đề nghị góp ý Dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 12/2015/TT-BTC ngày 30/01/2015 của Bộ Tài chính quy định chi tiết thủ tục cấp chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan; cấp và thu hồi mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan; trình tự, thủ tục công nhận và hoạt động của đại lý làm thủ tục hải quan.

Về sửa đổi, bổ sung quy định “Thi cấp Chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan”

Dự thảo đã sửa đổi quy định về các trường hợp miễn thi theo hướng bỏ các đối tượng được miễn thi quy định tại khoản 7 Điều 3 Thông tư 12: những người tốt nghiệp chuyên ngành hải quan, kinh tế ngoại thương, thương mại thuộc trường đại học, cao đẳng; giảng viên tại các trường đại học, cao đẳng có thời gian công tác liên tục từ 05 năm trở lên, sau khi thôi làm giảng viên mà đăng ký dự thi cấp Chứng chỉ trong thời hạn 03 năm kể từ ngày có quyết định chuyển công tác, nghỉ hưu hoặc nghỉ việc.

Thay thế bằng đối tượng là “công chức làm việc trong ngành hải quan giữ ngạch kiểm tra viên chính, kiểm tra viên cao cấp sau khi không làm việc (không bao gồm trường hợp bị kỷ luật buộc thôi việc) được miễn thi cấp Chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan trong thời hạn 03 năm kể từ ngày có quyết định chuyển công tác, nghỉ hưu hoặc nghỉ việc”.

Điều chỉnh quy định về thủ tục quay trở lại hoạt động của đại lý hải quan theo hướng Tổng cục Hải quan sẽ xem xét quyết định thay vì chờ báo cáo của Cục Hải quan, đồng thời quy định rõ về trình tự, thủ tục này

Điều chỉnh quy định về thủ tục quay trở lại hoạt động của đại lý hải quan theo hướng Tổng cục Hải quan sẽ xem xét quyết định thay vì chờ báo cáo của Cục Hải quan, đồng thời quy định rõ về trình tự, thủ tục này.

Tuy nhiên, VCCI cho rằng quy định này tại Dự thảo cần được xem xét lại bởi việc thay đổi các đối tượng được miễn thi sẽ tác động khá lớn đối với các đối tượng này khi muốn được cấp chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan, đồng thời gia tăng về thủ tục hành chính khi những đối tượng trước đây được miễn thi, nay phải thực hiện thi mới được cấp chứng chỉ hành nghề.

Cũng theo VCCI, những lý do để bỏ các đối tượng được miễn thi theo quy định tại Thông tư 12 dường như chưa thực sự thuyết phục, bởi:

Sự bất bình đẳng giữa các đối tượng được miễn thi: Ban soạn thảo cho rằng, việc giới hạn các chuyên ngành kinh tế ngoại thương, thương mại, hải quan gặp vướng mắc, vì “có nhiều trường hợp thí sinh đăng ký dự thi tốt nghiệp các chuyên ngành khác như kinh tế đối ngoại, kinh tế quốc tế … của các trường đại học ngoại thương, trường kinh tế quốc dân lại không được miễn thi … trong khi các ngành học nêu trên có các môn học và số lượng đơn vị học trình tương đương với chuyên ngành kinh tế ngoại thương hoặc thương mại quốc tế”.

Sự bất bình đẳng còn thể hiện ở thí sinh đăng ký đã tốt nghiệp các chuyên ngành kinh tế ngoại thương, thương mại quốc tế, chuyên ngành hải quan thì không bị giới hạn về số năm đã tốt nghiệp, trong khi giảng viên các trường đại học thì lại bị giới hạn về 03 năm kể từ ngày không làm giảng viên nữa.

Theo VCCI, vướng mắc trên có thể được giải quyết bằng cách: không đặt ra giới hạn về thời gian giảng viên thôi không giảng dạy khi chuyển sang ngành, nghề khác và mở rộng chuyên ngành được miễn thi thay vì chỉ giới hạn trong 03 ngành như quy định tại Thông tư 12. Đây là phương án mà Dự thảo vẫn chưa tính đến và đánh giá.

VCCI cho rằng, việc phát sinh thêm thủ tục khi phải xác minh trường hợp thí sinh đăng ký dự thi không thuộc đối tượng được miễn thi 01 đến 02 môn thi không bị kỷ luật buộc thôi việc, trong trường hợp thí sinh từng là giảng viên trường đại học, cao đẳng.

“Đúng là yêu cầu này sẽ làm phát sinh thêm thủ tục xác minh, tuy nhiên cần đánh giá xem giữa thủ tục xác minh này với thủ tục thi tuyển cho đối tượng đáng lẽ ra được miễn thi, thì thủ tục nào phức tạp và tốn thời gian hơn. Trong trường hợp được miễn thi, thí sinh sẵn sàng cung cấp tài liệu chứng minh mình không thuộc trường hợp bị kỷ luật thôi việc và chịu hoàn toàn trách nhiệm về tính trung thực của tài liệu này. Cơ quan nhà nước sẽ không phải tự mình đi xác minh và kiểm soát thông qua hậu kiểm.

Không có đánh giá, tổng kết nào liên quan đến trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của những đối tượng được miễn thi trong thời gian qua. Điều này chứng tỏ, những đối tượng được miễn thi và có Chứng chỉ đủ khả năng để làm việc. Do đó, xác định các đối tượng này thuộc trường hợp miễn thi cũng không ảnh hưởng tới các mục tiêu quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực này”, VCCI nêu.

Từ những phân tích trên, VCCI đề nghị Ban soạn thảo:

Giữ nguyên hai đối tượng được miễn thi theo quy định tại khoản 7 Điều 3 Thông tư 12, trong đó có điều chỉnh về các chuyên ngành được miễn thi và bỏ giới hạn về thời gian 03 năm kể từ ngày chuyển công tác, nghỉ hưu, thôi việc của đối tượng là giảng viên.

Về sửa đổi quy định về tạm dừng, chấm dứt hoạt động của đại lý làm thủ tục hải quan

Dự thảo đã sửa đổi quy định về tạm dừng hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan theo hướng, Tổng cục Hải quan sẽ chủ động quyết định tạm dừng hoạt động của đại lý làm thủ tục hải quan hoạt động không đảm bảo các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 20 Luật Hải quan hoặc không hoạt động đúng tên và địa chỉ đã đăng ký với cơ quan hải quan thay vì chờ cục Hải quan báo cáo. Lý do để điều chỉnh là vì Tổng cục Hải quan có thể có đầy đủ thông tin để kịp thời phát hiện các trường hợp không duy trì được đủ điều kiện hoạt động và thực tế, việc chờ báo cáo từ các Cục Hải quan khiến cho Tổng cục Hải quan bị bị động.

Theo VCCI, điều chỉnh quy định trên là hợp lý, tuy nhiên cũng liên quan đến việc tạm dừng hoạt động, thủ tục đại lý làm thủ tục hải quan có được xác nhận để được tiếp tục hoạt động lại vẫn giữ quy định: Cục Hải quan kiểm tra xác minh đáp ứng điều kiện thì báo cáo Tổng cục Hải quan có văn bản xác nhận, tức là Tổng cục Hải quan vẫn phải chờ báo cáo của Cục Hải quan.

Theo giải trình ở trên thì Tổng cục Hải quan đủ cơ sở dữ liệu thông tin để nhận biết đại lý làm thủ tục hải quan có đáp ứng điều kiện hay không, vi phạm về điều kiện hay không, như vậy thì cơ quan này cũng sẽ có đủ thông tin để biết đại lý có khắc phục được việc vi phạm phạm điều kiện hay không (ví dụ: vi phạm điều kiện về nhân viên, có thể kiểm tra thông qua hồ sơ đề nghị của doanh nghiệp và các doanh nghiệp khác).

Mặt khác, quy định tại điểm b khoản 1 Điều 7 (được sửa đổi) cũng chưa rõ ràng về thủ tục được tiếp tục hoạt động, ít nhất ở các điểm: trong khoảng thời gian bao lâu kể từ thời điểm nhận được công văn nhận đề nghị tiếp tục hoạt động của đại lý, Cục Hải quan sẽ kiểm tra, xác minh đáp ứng đủ điều kiện; sau khi xác minh thì thời hạn bao lâu sẽ gửi báo cáo cho Tổng cục Hải quan; trong khoảng bao lâu kể từ ngày nhận được báo cáo của Cục Hải quan, Tổng cục Hải quan sẽ có văn bản xác nhận để đại lý làm thủ tục hải quan được tiếp tục hoạt động? Việc thiếu rõ ràng trong trình tự, thủ tục này sẽ khiến cho doanh nghiệp không nhận biết được thời điểm mình được quay trở lại hoạt động sau thời gian bị tạm dừng.

Để đảm bảo tính hợp lý và minh bạch, VCCI đề nghị Ban soạn thảo:

Điều chỉnh quy định về thủ tục quay trở lại hoạt động của đại lý hải quan theo hướng Tổng cục Hải quan sẽ xem xét quyết định thay vì chờ báo cáo của Cục Hải quan, đồng thời quy định rõ về trình tự, thủ tục này.

Trong trường hợp giải trình hợp lý về việc vẫn giữ quy trình như Dự thảo (tức là phải chờ báo cáo từ Cục Hải quan), đề nghị quy định rõ về trình tự, thủ tục này, nhất là những vấn đề được nêu ở trên.