Xung quanh vấn đề này, DĐDN có cuộc trò chuyện với Luật sư Nguyễn Tiến Lập, văn phòng Luật sư NHQuang và Cộng sự, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam.

Ông Lập khẳng định: Khi thảo luận về kinh tế chia sẻ, tôi luôn có quan điểm rằng không ai và không nước nào có thể cưỡng lại nó. Bởi đó là sản phẩm tất yếu của thời đại công nghệ số hay cách mạng công nghiệp 4.0 và quan trọng hơn, người dân với tư cách đối tượng hưởng lợi đã và đang ủng hộ nó rất nhiệt tình.

Tuy nhiên, tại sao có một “bộ phận không nhỏ” cán bộ quản lý nhà nước lại lúng túng trong ứng xử với nền kinh tế này, mà cụ thể là với hai sản phẩm rõ rệt nhất là Uber và Grab?

Theo tôi, họ có phần lúng túng vì không thay đổi kịp lối tư duy và nếp quản lý, nhưng cũng có phần vì chính sự ích kỷ của “nhóm lợi ích”, tức chỉ quan tâm đến cái tiện và cái lợi cho mình, dù là lợi ích ngắn hạn và mỏng manh. Đương nhiên, Uber và Grab không chỉ đang đặt ra thách thức đối với cơ quan quản lý như Bộ Giao thông, mà còn với cả cộng đồng dịch vụ vận tải taxi. Thực tế này là bình thường trong nền kinh tế thị trường, nhưng điều mà cả xã hội thấy thú vị và đáng cười hơn lại là cái cách ứng xử. Thay vì hãy cứ để thử nghiệm tiếp nếu chưa hiểu và chưa chắc chắn thì người ta lại quy chụp cho nó cái mũ cũ được gọi là “taxi truyền thống”, để sau đó kéo nó xuống cái mặt bằng quản lý hiện hữu, vốn tiện lợi và quen thuộc hơn. Tóm lại, cái “bộ phận không nhỏ” cán bộ quản lý ấy không có ý định muốn đổi mới, chứ không phải cố đi mà không theo kịp.

- Theo ông, hiện nay đâu là “điểm nghẽn” trong tư duy quản lý của Việt Nam, đặc biệt là kinh doanh dựa trên nền tảng kinh tế chia sẻ như Grab trong thời gian qua?

Điểm nghẽn lớn nhất trong tư duy quản lý ở nước ta là vẫn không vượt qua được tâm lý cai trị để đạt đến tâm lý phục vụ. Mặc dù chúng ta đã có luật về công chức, tuy nhiên, phần lớn công chức vẫn coi mình là “quan chức” hơn là “công bộc”, tức người phục vụ công.

Với tâm lý cai trị, một quan chức sẽ nghĩ rằng: “Tôi ban hành chính sách vì tôi có quyền làm thế, tôi cho thế là đúng và chỉ khi nào tự tôi thấy sai thì tôi mới sửa”. Trong khi với tâm lý phục vụ, một công bộc sẽ tâm niệm: “Tôi ban hành chính sách vì là trách nhiệm của tôi, tôi làm thế vì đó là điều người dân cần và tôi sẽ thay đổi khi nào người dân muốn thế”. Ứng dụng điều này để quan sát, chúng ta sẽ dễ dàng nhận thấy sự khác biệt rất rõ ràng, không chỉ là trong quan điểm về một vấn đề mà còn trong cách tư duy và tiếp cận vấn đề, giữa quan chức quản lý và người dân. Chẳng hạn trong một số thảo luận gần đây để sửa đổi các quy định pháp luật về kinh doanh vận tải đường bộ, phía các nhà quản lý đều cùng có sự quan ngại chung về xu hướng gia tăng không cưỡng lại được của các phương tiện vận tải bởi sự xuất hiện của Uber và Grab, dẫn đến không thể quản lý, đồng thời chỉ thấy và coi đó là hình thức kinh doanh có ứng dụng công nghệ.

p/Đón đầu xu hướng phát triển của kỷ nguyên số, tư duy quản lý cũng cần bắt đầu được thay đổi để có thể quản lý dựa trên chính những nền tảng công nghệ số thay cho các phương pháp truyền thống như hiện nay.

Đón đầu xu hướng phát triển của kỷ nguyên số, tư duy quản lý cũng cần bắt đầu được thay đổi để có thể quản lý dựa trên chính những nền tảng công nghệ số thay cho các phương pháp truyền thống như hiện nay.

Trong khi đó, cả xã hội lại có đánh giá và cách nhìn ngược lại, coi việc có thêm hay bớt đi các phương tiện vận tải là hiện tượng bình thường theo quan hệ cung – cầu của thị trường, đồng thời dường như tất cả đều nhận biết với thái độ hoan nghênh rằng việc có thêm Uber và Grab chính là được hưởng một loại hình dịch vụ mới của nền kinh tế chia sẻ, tương tự như kinh doanh “homestay” trong ngành du lịch. Ngoài điểm nghẽn về tâm lý như đã nói, còn một vấn đề khác không kém phần tiêu cực là tư duy lợi ích, mà ở đây là lợi ích cá nhân và lợi ích phe nhóm.

Về hiện tượng này, nhiều người quy về lỗi đạo đức, còn tôi lại cho rằng một khi ai hay bộ phận nào đó ban hành chính sách sai mà không phải chịu hậu quả gì thì đó là lỗi của hệ thống, tức là các khiếm khuyết cơ bản trong tổ chức quyền lực công.

- Vậy theo ông, chúng ta phải làm gì để gỡ “điểm nghẽn” tư duy?

Hãy cùng nhau điểm lại lịch sử của 30 năm Đổi mới ở Việt Nam, về cơ bản chúng ta vẫn loay hoay với bài toán “tháo gỡ” về cơ chế, chính sách hơn là xây dựng một mô hình thể chế chính trị, kinh tế và mô hình phát triển. Vậy, câu hỏi đặt ra là tại sao cứ tháo và gỡ mãi mà các nút thắt của cơ chế và chính sách vẫn không hết, hay thậm chí hết rồi nó lại tiếp tục mọc ra? Hay, nói một cách khác, đó có phải là cách tiếp cận đúng hay còn đúng nữa không? Tiếp thu cái mới để cải cách và phát triển luôn luôn cần ba yếu tố: Năng lực, nguồn lực và động lực.

Thay vì phải nghiên cứu và tranh luận vất vả, cơ quan quản lý chỉ cần hỏi người thân và bạn bè xem họ chỉ ra sự khác nhau giữa taxi truyền thống và Uber, Grab thế nào và hàng ngày khi ra đường họ đang ưa lựa chọn phương tiện gì?

Với yếu tố thứ nhất, ai cũng biết người Việt Nam cần cù, thông minh và hiếu học nên không ngại.

Với yếu tố thứ hai, Việt Nam vừa giàu tài nguyên lại vừa sẵn các nguồn lực đến từ bên ngoài thuộc hàng cao nhất của thế giới như kiều hối, ODA và cả FDI. Tôi chỉ e ngại yếu tố thứ ba, đó là thiếu động lực cho đổi mới, bao gồm cả sức kéo và lực đẩy. Trong bộ máy quản lý nhà nước đang thiếu động lực này. Về sức kéo thì hầu như không có, bởi đổi mới chính là phải hy sinh hay chịu thiệt hại về lợi ích, cả lợi ích cá nhân lẫn lợi ích nhóm.

Do đó, nếu cần phải làm gì hơn, tôi cho rằng phải tạo được lực đẩy. Nó có thể đến từ phía trên, tức cấp lãnh đạo cao nhất nhưng tiếc rằng sẽ là không đủ. Điều quan trọng là sức đẩy từ dưới lên, tức từ xã hội và người dân, được tạo ra từ quá trình dân chủ hoá với hai yếu tố khởi đầu là sự minh bạch hoá và thực thi trách nhiệm giải trình về cả hoạt động xây dựng lẫn ban hành và thực thi chính sách của các cấp chính quyền.

- Như ông khẳng định, chúng ta không nên và không được phép bỏ lỡ cơ hội từ kinh tế chia sẻ. Vậy ngoài việc gỡ tư duy, Việt Nam còn cần gì?

Trong nền kinh tế chia sẻ, ngoài các thách thức mới, mỗi cá nhân đều có cơ hội để đóng cả hai vai: Vừa là người tiêu dùng lại vừa là người làm kinh tế một cách tự chủ và tự quản. Trong nền kinh tế chia sẻ, lợi thế sẽ được tạo ra cho cả những người có năng lực chia sẻ và tiếp cận các nguồn lực bằng sử dụng hạ tầng công nghệ số.

Như vậy, nền kinh tế chia sẻ là một nền kinh tế nhân văn bởi nó tạo các cơ hội sáng tạo, làm giàu và làm chủ cho số đông, trước hết và đặc biệt là những người trẻ. Để làm được điều đó, chỉ cần có tự do - là điều mà Chính phủ đã và đang cố gắng tạo lập trong thế giới thực thông qua tháo gỡ các rào cản cho khởi nghiệp và kinh doanh.

Tuy nhiên, đó mới là điều kiện cần, để thúc đẩy nền kinh tế chia sẻ, chúng ta còn cần cả sự bảo đảm tự do trong thế giới ảo hay không gian mạng, mà nói cụ thể là tự do kết nối, tiếp cận và chia sẻ thông tin, năng lực và nguồn lực. Quyền tự do mới này đương nhiên cũng hàm chưa các yếu tố rủi ro, bao gồm các tác động phụ như thông tin bị bóp méo hay các nhân tố phá hoại như tội phạm mạng, tấn công hay khủng bố mạng. Trong khi giảm thiểu hay loại trừ tác động phụ là công việc của người sử dụng mạng, thì ứng phó với các nhân tố phá hoại là nhiệm vụ của chính phủ.

-Việt Nam vẫn đang trong quá trình xây dựng Đề án mô hình kinh tế chia sẻ, dưới góc nhìn của một chuyên gia, ông có khuyến nghị gì để Việt Nam có thể quản lý tốt mô hình này?

Hãy quan niệm kinh tế chia sẻ là một hiện tượng tự nhiên. Nó đồng nghĩa với thực hành tự do trên nền tảng hạ tầng công nghệ số, song hành với quá trình giảm thiểu sự can thiệp của quản lý nhà nước thông qua các biện pháp hành chính.

Thay vì tăng cường quản lý, Chính phủ nên tập trung vào giáo dục và đào tạo toàn diện cho người dân về nền kinh tế mới này. Tiếp đó, cần có bộ máy chuyên nghiệp để sẵn sàng ứng phó và xử lý các sự cố, dù bằng cách sử dụng công nghệ hay sử dụng hành lang và công cụ pháp lý. Chúng ta nên học hỏi từ bài học xử lý của chính quyền ở Mỹ và châu Âu đối với các sự cố có tính chất vi phạm quyền của người dùng đối với Facebook và Google trong thời gian qua. Bởi nền kinh tế chia sẻ cũng là nền kinh tế dễ bị tổn thương, tôi cho rằng vấn đề khó khăn nhất là làm sao vừa ứng phó và xử lý nhanh các sự cố, vừa duy trì được niềm tin và cảm hứng của mọi người dân đối với môi trường kinh doanh và trật tự xã hội mà họ đang sống.

Do vậy, tôi cho rằng đã đến lúc các nhà lập chính sách phải nhận ra và chấp nhận sự hình thành và tồn tại của nền kinh tế chia sẻ. Trong bối cảnh đó, tôi hoan nghênh đề xuất sửa Luật Giao thông đường bộ của Bộ Giao thông, thay vì chỉ điều chỉnh có tính cơi nới Nghị định quy định điều kiện kinh doanh vận tải hiện hành. Tuy nhiên, xin được lưu ý một điều, đó là dù có sửa đổi điều khoản gì của Luật đi chăng nữa mà vẫn không tạo cơ hội cho người sở hữu phương tiện giao thông được trực tiếp kinh doanh chính phương tiện của mình, thì đó vẫn không phải là sự thừa nhận nền kinh tế chia sẻ.

- Xin cảm ơn ông!

Bạn đang đọc bài viết Tương lai của kinh tế chia sẻ (Kỳ II): Động lực của kinh tế chia sẻ tại chuyên mục Thời sự của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan@dddn.com.vn, hotline: (024) 3.5771239,