Người Việt ta giàu quá. Họ tích góp ra sao? Họ chuyển tiền cách nào để đi ra nước ngoài đầu tư địa ốc? Và vì sao lại như vậy, trong khi 3 tỷ USD đó, nếu để ở Việt Nam, sẽ có thể là một lực đẩy cho nền kinh tế? Chúng ta liệu có thể nhìn vấn đề này ở một góc nhìn khác.

p/Việt Nam tiếp tục lọt top 10 quốc gia có công dân mua nhà tại Mỹ nhiều nhất thế giới. Nguồn: Hiệp hội Quốc gia Chuyên viên Địa ốc Hoa Kỳ

Việt Nam tiếp tục lọt top 10 quốc gia có công dân mua nhà tại Mỹ nhiều nhất thế giới. Nguồn: Hiệp hội Quốc gia Chuyên viên Địa ốc Hoa Kỳ

Tư duy “đóng” không còn phù hợp với thị trường “mở”

Thứ nhất, từ xưa đến nay, chúng ta vẫn đang quản lý thị trường và tài chính, tiền tệ theo một tư duy “đóng”, rất chặt, với nỗ lực hút ngoại tệ bằng mọi giá và quản lý ngoại tệ không để dòng chảy/xáo trộn nào (theo chiều ra) có thể gây tác động đến tỷ giá, cán cân thanh toán và theo đó là sự ổn định của nền kinh tế Việt Nam. Đó là tư duy quản lý phù hợp với nền kinh tế thị trường non trẻ, năng lực quản lý tài chính còn hạn chế. Tuy nhiên, chính tư duy này có thể dẫn đến việc hạn chế quyền lợi của người dân, doanh nghiệp trong sử dụng ngoại tệ.

Và quan trọng là sẽ làm hạn chế sự phát triển của nền kinh tế thị trường của VN theo hướng mở và hội nhập, làm cho đồng tiền VN nói riêng và thị trường tiền tệ VN nói chung sẽ chậm lại trong việc gia nhập nền tài chính quốc tế, khiến cho chúng ta phải không ngừng điều chỉnh chính sách tiền tệ và quản lý ngoại hối để quản lý phù hợp với sự chuyển biến liên tục của đà phát triển của nền kinh tế quốc gia.

Việt Nam vẫn đang là 1 trong những nền kinh tế có cơ hội sinh lợi tốt nhất toàn cầu.

Ví dụ, nếu xem vàng và ngoại tệ đều là tài sản thuộc về quyền sở hữu của người dân, và người dân được quyền tự do kinh doanh, sở hữu tài tài sản, được “bảo hộ” các quyền theo Hiến pháp không bị hạn chế, thì việc quản lý các dạng tài sản đó, ở góc độ Nhà nước, liệu có nên vì mục tiêu chống đô la hóa hay vàng hóa nền kinh tế mà bị hạn chế theo các Nghị định, Thông tư ban hành? (Ví dụ cụ thể hơn là Nghị định 24/2012/NQ- CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng).

Thứ hai, quan sát và ghi nhận cho thấy trong nhiều năm, chúng ta cũng kiểm soát quyền tự do kinh doanh, tự do sở hữu, chuyển giao tài sản ngoại tệ ra nước ngoài bằng những con số cụ thể (từ mức một người VN ra nước ngoài được mang ngoại tệ tối đa 7.000 USD xuống còn 5.000 USD). Tuy nhiên, với con số ngược lại về các khoản tiền đã bỏ ra để mua nhà ở Mỹ (như được thông tin) hàng triệu tới tổng tiền cả tỷ “đô la” Mỹ, có nghĩa, đã có những dòng chảy “ngoại ngạch” kiểm soát của Nhà nước - tức nhà nước mất một nguồn thu từ kênh kiểm soát chính thức và đồng nghĩa chi phí của người dân chuyển giao ngoại tệ ngoài kiểm soát tăng lên.
Thứ ba, cũng theo ghi nhận trong nhiều năm qua, chúng ta (Nhà nước) đã nỗ lực nghiên cứu, xây dựng các phương án để huy động vàng và ngoại tệ trong dân, bằng các phương thức hành chính chính sách đến định hướng. Triển khai đến đâu và hiệu quả ra sao?

Thay đổi tư duy quản lý ngoại hối

Từ ba điểm trên, để thấy, thay cho quản lý ngoại hối bằng tư duy đóng, nên chăng chuyển hướng sang một tư duy mở - thực sự đúng quản lý thị trường:

Thứ nhất, chấp nhận những dòng chảy hai chiều trong khả năng kiểm soát ngoại hối quốc gia (phải song song với nâng cao năng lực kiểm soát và ứng phó các diễn biến thị trường ngoại hối, kinh tế toàn cầu).

Thứ hai, tư duy mở: Người nước ngoài được chào đón, mời gọi mua nhà, đầu tư tại Việt Nam. Người Việt Nam cũng có quyền như vậy.

Thứ ba, thay cho nghĩ đến việc kiểm soát, “đóng” dòng tiền, sẽ cải thiện môi trường kinh doanh thuận lợi tối đa, kích thích người dân và nhà đầu tư chuyển hóa tài sản thành tiền để kinh doanh. Nền kinh tế VN đã từng có những giai đoạn từ “vàng hóa” với các phương thức thanh toán tài sản lớn được đo lường bằng vàng, kích hoạt người dân bán vàng đầu tư sản xuất thương mại. Đây chính là cách huy động vàng và ngoại tệ tự nguyện, hữu ích, hiệu quả nhất.

Cuối cùng, sẽ không có gì đáng lo ngại nếu Việt Nam xây dựng được một môi trường kinh doanh bền vững, giải được nút thắt bất ổn tỷ giá và quan trọng nhất, Nhà nước thực sự là Nhà nước kiến tạo. Khi đó, dòng vốn chảy đi chắc chắn sẽ chẳng thể so bì với dòng vốn chảy vào nước Việt. Bởi, xét ở góc độ đầu tư, Việt Nam vẫn đang là 1 trong những nền kinh tế có cơ hội sinh lợi tốt nhất toàn cầu.