Thị trường thỉnh thoảng lại chứng kiến những sự kiện vô lý đến kỳ lạ, giá xăng giảm nhưng giá vận tải không giảm, giá sữa cứ tăng trong khi giá nguyên liệu không tăng.p/Ảnh: Internet

TS Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam: "Thị trường thỉnh thoảng lại chứng kiến những sự kiện vô lý đến kỳ lạ, giá xăng giảm nhưng giá vận tải không giảm, giá sữa cứ tăng trong khi giá nguyên liệu không tăng". Ảnh: Internet

Luật Cạnh tranh nền tảng cho sự vận hành của kinh tế thị trường, Người ta có lý khi nói rằng đó là bản là Hiến pháp của kinh tế thị trường. Tuy nhiên, sau 12 năm thực thi, tác động của Luật Cạnh tranh ở nước rất mờ nhạt.

Những bất cập từ thực tế

Một là, số lượng vụ việc bị kết luận là hạn chế cạnh tranh thì ít đến không thể ít hơn. Suốt trong 12 năm mới có 08 vụ điều tra chính thức (tức là trung bình 0.7 vụ/năm) trong khi môi trường cạnh tranh như ở Việt Nam mà chúng ta đều hiểu người lạc quan nhất cũng không thể nói là hoàn hảo.

Hai là thị trường thỉnh thoảng lại chứng kiến những hiện tượng vô lý đến kỳ lạ: giá xăng cứ giảm nhưng giá vận tải không giảm, giá sữa cứ tăng trong khi nguyên liệu không tăng… Cơ quan Nhà nước loay hoay tìm kiếm các giải pháp hành chính can thiệp nhưng không nổi. Vấn đề của cạnh tranh nhưng chẳng ai nói tới pháp luật cạnh tranh.

Ba là cơ quan nhà nước có thể vô tư ra lệnh cấm bán cát cho khách ngoại tỉnh, phải uống bia nội tỉnh, yêu cầu nông dân dùng thuốc trừ sâu tỉnh nhà… Những quyết định hành chính như vậy đã can thiệp trực tiếp vào cung – cầu của thị trường. Hầu như rất ít các cơ quan khi ban hành một quyết định hành chính hay soạn thảo một văn bản pháp luật có đánh giá hay tính toán gì từ góc độ tác động của quyết định, văn bản tới cạnh tranh.

Có nguyên nhân từ Luật Cạnh tranh

Nguyên nhân của thực trạng này được cho là nằm ở ít nhất các hạn chế sau:

Một là, hạn chế trong các quy định của Luật (quy định chưa đủ bao quát các hành vi hạn chế cạnh tranh, quy định chưa đủ thuận lợi để người dân, doanh nghiệp sử dụng…)

Hai là, hạn chế từ phía cơ quan thực thi (cơ quan thực thi chưa chủ động phát hiện, xử lý hoặc ít nhất là lên tiếng trong các vụ việc có dấu hiệu vi phạm Luật Cạnh tranh

Ba là, hạn chế trong nhận thức của người dân, doanh nghiệp, xã hội và cả các cơ quan Nhà nước về các quyền và nghĩa vụ liên quan tới cạnh tranh; thiếu động lực để tổ chức, cá nhân lên tiếng đối với hành vi vi phạm cạnh tranh.

Vì vậy Dự thảo ít nhất phải xử lý được các nguyên nhân này, mới có thể mong tạo ra một diện mạo mới cho pháp luật cạnh tranh, và cả hiện trạng cạnh tranh trên thị trường.

Những hạn chế từ dự thảo Luật mới

Rà soát các quy định của Dự thảo Luật, tôi thấy Cơ quan soạn thảo đã nhiều nỗ lực. Chúng tôi cũng đánh giá cao sự phối hợp của cơ quan soạn thảo trong việc lấy ý kiến doanh nghiệp qua VCCI cho Dự thảo. Tuy nhiên, Dự thảo vẫn còn một số hạn chế mà chúng tôi cho rằng không xử lý được sẽ không thể đạt được mục tiêu để Luật Cạnh tranh đi vào cuộc sống như tôi đã đề cập ở trên:

Trước hết, chúng ta có thể thấy, một số quy định quan trọng, có tính cốt lõi chưa được lại quy định quá chung chung trong dự thảo. Đơn cử:

Các căn cứ để miễn trừ thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (Điều 14): tác động thúc đẩy tiến bộ KHKT là thế nào? Tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thế nào? Nếu với các căn cứ chung chung như dự luật thì thỏa thuận nào cũng có thể được miễn trừ cả.

Ngưỡng thông báo tập trung kinh tế (Điều 33): Chúng ta cần lưu ý rằng quyền tập trung kinh tế là quyền tự do của doanh nghiệp, việc hạn chế chỉ là trong trường hợp tập trung đó đạt một ngưỡng nhất định có thể ảnh hưởng tới cạnh tranh chung trên thị trường. Do đó ngưỡng này là ranh giới giữa quyền và hạn chế quyền. Nhưng Dự thảo Luật lại không quy định cụ thể, lại giao về cho Nghị định.

Tôi đề nghị tất cả các vấn đề mang tính cốt lõi, ảnh hưởng tới quyền cơ bản của các chủ thể cạnh tranh như đã đề cập ở trên phải được quy định cụ thể trong Luật này.

Một số quy định trong dự thảo không thích hợp, ví dụ Điều 33 về tập trung kinh tế: Tiêu chí cho phép hay không cho phép tập trung kinh tế phải dựa vào tác động của tập trung kinh tế đối với thị trường (ví dụ thị phần lớn đến mức nào, khả năng ảnh hưởng tới hành vi cạnh tranh của các chủ thể khác trên thị trường ra sao). Nhưng các tiêu chí hiện tại của dự thảo lại không dựa vào điều này. Ví dụ, Luật đưa ra Tiêu chí giá trị giao dịch (theo một mức ấn định sẵn) không thể phản ánh tác động của giao dịch đó tới thị trường liên quan. Theo tôi, chỉ có tỷ trọng của giá trị giao dịch trên tổng giá trị thị trường thì mới có ý nghĩa hay tiêu chí tổng doanh thu, tổng tài sản trên toàn thị trường VN: Sao lại rộng như vậy (toàn bộ thị trường VN là tất cả các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ). Theo tôi chỉ đúng nếu là thị trường sản phẩm/dịch vụ liên quan.

Vì vậy đề nghị, tiêu chí cho phép hay không cho phép tập chung kinh tế phải là thị phần, là tỷ trọng chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp chứ không phải giá trị giao dịch hay tổng doanh thu, tổng tài sản. Và phải tính trên thị trường và sản phẩm dịch vụ có liên quan, không phải trên toàn thị trường Việt Nam như dự thảo nêu.

Về mối quan hệ với các Luật khác: Dự thảo luật quy định, Luật khác có liên quan điều chỉnh quan hệ cạnh tranh trong các lĩnh vực cụ thể không được trái với quy định của Luật này. Có nghĩa là luật này được ưu tiên áp dụng so với các luật khác. Trong thảo luận, có đại biểu nêu quan điểm khác là ưu tiên áp dụng cho pháp luật chuyên ngành. Cả hai cách tiếp cận này đều không hợp lý. Tôi đề nghị đối với các luật chuyên ngành cho các lĩnh vực như tổ chức tín dụng, ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm, viễn thông… do có quy định riêng và rất đặc thù (và cũng là hợp lý) nên quy định là những linh vực được loại trừ khỏi phạm vi áp dụng của Luật Cạnh tranh. Tổ chức ASEAN và OECD cũng khuyến cáo các nền kinh tế thành viên nên quy định rõ và cụ thể các lĩnh vực được loại trừ ra khỏi phạm vị áp dụng của Luật này.

Quyền khởi kiện dân sự ra Tòa: Dự thảo đã không đề cập vấn đề này, Luật Cạnh tranh 2004 cũng không quy định gì. Trong phần giải trình thì Bộ trưởng Bộ Công Thương có giải thích rằng do Luật Dân sự đã quy định rồi nên không cần quy định ở Luật này. Nhưng đây là bộ luật duy nhất có quy định về riêng về cơ quan giải quyết vụ việc cạnh tranh không lành mạnh (cơ quan cạnh tranh) do vậy trên thực tế phần lớn doanh nghiệp, người dân, thậm chí nhiều chuyên gia hiểu là không thể kiện dân sự (ra Tòa) đòi bồi thường thiệt hại do vi phạm luật cạnh tranh mà bắt buộc phải khiếu nại theo thủ tục tại Cơ quan cạnh tranh. Trong khi đó thủ tục xử lý tại Cơ quan cạnh tranh bản chất lại là thủ tục xử lý vi phạm hành chính, các biện pháp xử lý là biện pháp xử lý vi phạm hành chính. Người dân, doanh nghiệp không có động lực nào để đi khiếu nại ra Cơ quan cạnh tranh bởi nếu có bị xử phạt thì là phạt hành chính, mức phạt không đáng kể không khiến người vi phạm sợ, tiền phạt thì về Kho bạc NN. Vì vậy đề nghị cần bổ sung quy định trong Dự thảo nêu rõ tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh của tổ chức, cá nhân khác đều có thể khởi kiện ra Tòa án đòi bồi thường.

Vị trí của Cơ quan Cạnh tranh quốc gia: Vấn đề không phải là cơ quan này đặt ở đâu, quan trọng là bảo đảm tính độc lập, trách nhiệm và hiệu quả của nó. Có đại biểu lo ngại là Bộ Công thương đang là chủ quản của các doanh nghiệp Nhà nước. Nên cơ quan Cạnh tranh nằm ở Bộ công thương không đảm bảo tính khách quan. Nhưng chúng ta đã có Nghị quyết của Đảng, của Quốc hội và Đề án của Chính phủ để phi chủ quản hoá đối với các bộ ngành, chuyển quyền quản lý vốn tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp độc lập về Công ty tài chính nhà nước hoặc Uỷ ban quản lý vốn và tài sản doanh nghiệp Nhà nước. Vì vậy Bộ Công thươnng sẽ không còn quản lý các doanh nghiệp Nhà nước nữa. Vì vậy việc giao cho Bộ Công thương quản lý cơ quan Cạnh tranh sẽ là hợp lẽ và chúng ta không phải lo ngại về tính khách quan của tổ chức này khi xét sử các vụ liên quan tới hạn chế cạnh tranh. Bên cạnh đó tôi đề nghị bổ sung vào dự thảo quy đinh thúc đẩy tính tích cực của cơ quan cạnh tranh ví dụ: quy định về yêu cầu báo cáo và công khai báo cáo hàng năm về các hiện tượng cạnh tranh trên thị trường; cách thức xử lý của cơ quan cạnh tranh. Việc công khai các báo cáo này có thể thu hút bình luận của dư luận và là sức ép để cơ quan cạnh tranh phải có tiếng nói trong các vụ việc điển hình.