Từ năm 2003 trở về trước, quy mô kim ngạch xuất khẩu hàng điện tử, máy tính còn rất nhỏ, tốc độ tăng bình quân năm chỉ đạt 14,6%. Đến năm 2004, sau khi vượt qua mốc 1 tỷ USD, xuất khẩu hàng điện tử, máy tính và linh kiện đã tăng tốc và đạt quy mô lớn. Năm 2014, kim ngạch xuất khẩu hàng điện tử, máy tính và linh kiện đã cao gấp 133,7 lần so với năm 2003.

Cụ thể, năm 2013 ngành điện tử đã vượt qua may mặc trở thành ngành hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, đạt 32,2 tỷ USD, tăng 57% so với năm 2012. Qua năm 2014, kim ngạch xuất khẩu điện tử cán mốc 35 tỷ USD. Năm 2015 chỉ tính riêng nhóm ngành điện thoại và linh kiện, kim ngạch xuất khẩu đã đưa về hơn 30 tỷ USD. Còn các mặt hàng máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 15,6 tỷ USD. Trong năm 2016, kim ngạch xuất khẩu nhóm ngành này tiếp tục tăng: nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện (gần 34,32 tỷ USD – chiếm 27,1%); máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (gần 18,96 tỷ USD – chiếm 14,9%). Trong quý 1/2017, xuất khẩu máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện trong tháng 3/2017 đạt mức cao nhất từ trước tới nay với kim ngạch là 2,19 tỷ USD, tăng 27,5% so với tháng trước. Qua đó nâng tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của 3 tháng lên 5,52 tỷ USD, tăng cao 47,8% so với cùng kỳ năm 2016. (Nguồn: Tổng cục Hải quan).

Tuy nhiên, điều đáng nói, chiếm đến 95% kim ngạch xuất khẩu nhóm ngành điện tử là khu vực doanh nghiệp FDI. Theo báo cáo mới đây của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) của Liên hiệp quốc, trong số 100 DN điện tử lớn của Việt Nam có tới 99 là doanh nghiệp FDI.

Số lượng các doanh nghiệp trong lĩnh vực điện tử ở trong nước còn ít và cũng gặp rất nhiều khó khăn. Các doanh nghiệp trong nước chỉ tập trung vào lắp ráp, chủ yếu là lắp ráp các thiết bị điện tử dân dụng bằng các linh kiện ngoại nhập, chiếm gần 80% giá thành sản phẩm và thực hiện những dịch vụ thương mại, không có sản phẩm thương hiệu riêng cũng chưa phát triển được các sản phẩm, chương trình phần mềm có giá trị thương hiệu riêng….Nguyên nhân chủ yếu là do nguồn vốn lớn, trong khi các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là quy mô vừa và nhỏ, manh mún, phát triển theo dạng tự phát, chưa có quy hoạch tổng thể, cộng thêm với chính sách hỗ trợ của nhà nước còn hạn chế khiến các doanh nghiệp càng gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, trình độ khoa học, công nghệ và trang thiết bị sản xuất của phần lớn các doanh nghiệp đều lạc hậu, tiêu hao nhiên liệu, nguyên liệu lớn, tay nghề của người lao động thấp nên chất lượng sản phẩm đầu ra không cao, khả năng cạnh tranh kém, rất khó được các nhà đầu tư nước ngoài chấp nhận, gây khó khăn trong xúc tiến thị trường đầu ra đặc biệt là thị trường nước ngoài.

Số lượng các doanh nghiệp điện tử trong nước chưa nhiều nên số doanh nghiệp được xét đánh giá năng lực tài chính hàng năm không có năm nào vượt quá 10 doanh nghiệp.

Dưới đây là các chỉ số tài chính cơ bản của các doanh nghiệp thuộc ngành Công nghiệp điện tử, sử dụng số liệu 2 năm 2015 và 2016 để so sánh.

Số lượng doanh nghiệp ngành công nghiệp điện tử

Đặc điểm và tình trạng phân bố của các chỉ số tài chính trong ngành dựa trên 6 nhóm chỉ tiêu chính là Chỉ số thanh toán, Chỉ số hiệu quả kinh doanh, Chỉ số đòn bảy tài chính, Chỉ số sinh lời, Hệ số bảo toàn vốn và Doanh thu; và 21 chỉ tiêu nhỏ nằm trong 6 nhóm chỉ tiêu chính được thể hiện ở SƠ ĐỒ 1: 6 nhóm chỉ tiêu chính, và SƠ ĐỒ 2: 21 chỉ tiêu thành phần

 

Tình hình thay đổi của các doanh nghiệp trong ngành
 
Tình trạng “chuyển nhóm” của doanh nghiệp trong ngành nghĩa là các doanh nghiệp trong ngành đó chuyển từ nhóm đạt 2 tiêu chí sang nhóm đạt 1 tiêu chí và ngược lại. Sự chuyển nhóm được coi là tích cực nếu các doanh nghiệp chuyển từ nhóm đạt ít tiêu chí sang nhóm đạt nhiều tiêu chí; và ngược lại, sẽ bị coi là tiêu cực nếu chuyển từ nhóm đạt nhiều tiêu chí sang nhóm đạt ít tiêu chí. Tình trạng “chuyển nhóm” của các doanh nghiệp trong từng ngành được thể hiện trong BẢNG 2.
 
 

Đối với ngành Công nghiệp điện tử, ta thấy ngành này thể hiện xu thế chuyển nhóm tiêu cực do có 01 doanh nghiệp chuyển từ nhóm 1 sang nhóm 2. Còn 01 doanh nghiệp chênh lệch năm 2016/2015 là 01doanh nghiệp nhóm không đạt năm 2016 không được xét.

Tình trạng “sức khoẻ” của doanh nghiệp được phản ánh qua những thay đổi về kết quả hoạt động của doanh nghiệp khi so sánh giữa 2 năm 2016-2015, thể hiện qua hiệu số giữa các chỉ số tài chính của doanh nghiệp năm 2016 so với 2015. Tình trạng “sức khoẻ lý tưởng” của doanh nghiệp, xét từ góc độ các chỉ tiêu tài chính, được phản ánh qua hệ thống các ‘mức chuẩn tối ưu’ của các chỉ tiêu.

Một sự thay đổi về chỉ số của một doanh nghiệp tiến gần đến ‘mức chuẩn tối ưu’ của chỉ tiêu đó hơn sẽ được ghi nhận là có “Tốt lên”; Ngược lại, nếu có sự thay đổi theo hướng rời xa ‘mức chuẩn tối ưu’, tình trạng sẽ được ghi nhận là “Yếu đi”. Số chỉ tiêu được xét gồm 21 chỉ tiêu cụ thể thuộc 6 nhóm chỉ tiêu tài chính. Để có thể so sánh được, doanh nghiệp được xét là những doanh nghiệp nằm trong số các doanh nghiệp đạt tiêu chí xem xét cả trong năm 2016 và 2015. Tình trạng sức khỏe của doanh nghiệp trong ngành được thể hiện qua bảng Tình trạng cải thiện các chỉ tiêu xét theo ngành các doanh nghiệp đạt tiêu chí và Bảng Số lượng doanh nghiệp có số chỉ tiêu tốt lên chiếm trên 50% xét theo ngành.

Đối với ngành Công nghiệp điện tử:

Trong bảng Tình trạng cải thiện các chỉ tiêu xét theo ngành các doanh nghiệp ngành Công nghiệp điện tử, tỷ trọng các chỉ tiêu tốt lên là 46%, các chỉ tiêu yếu đi là 52,4%, còn các chỉ tiêu không đổi là 1,6%.

Còn về số lượng doanh nghiệp số chỉ tiêu tốt lên chiếm trên 50% xét theo ngành thì trong 3 doanh nghiệp được xét của ngành Công nghiệp điện tử chỉ có 1 doanh nghiệp có số lượng chỉ tiêu tốt lên cao hơn 50% (chiếm 33%). Số lượng chỉ tiêu nhiều nhất được cải thiện (được ghi nhận là “tốt lên”) của một doanh nghiệp thuộc ngành Công nghiệp điện tử là 11/21 chỉ tiêu (chiếm 52%)

Sự thay đổi thứ hạng của các doanh nghiệp trong ngành

Sự thay đổi về thứ hạng của doanh nghiệp là dấu hiệu cho biết sự tiến bộ trong hoạt động của các doanh nghiệp và của một ngành qua một năm. Sự thay đổi thứ hạng doanh nghiệp trong nhóm và trong tổng số các doanh nghiệp được nghiên cứu có thể là do sự xuất hiện của các doanh nghiệp mới. Nếu doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn, vị trí thứ hạng của doanh nghiệp sẽ được cải thiện (tăng bậc).

Ngược lại, nếu doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả so với năm trước hay so với doanh nghiệp khác trong ngành hay trong nhóm thậm chí các doanh nghiệp mới xuất hiện, thứ hạng của doanh nghiệp sẽ hạ xuống (giảm bậc). Sự thay đổi thứ hạng của doanh nghiệp trong ngành được thể hiện qua bảng Tình hình thay đổi về thứ hạng của doanh nghiệp trong ngành xét theo nhóm tiêu chí.

 So sánh số liệu ngành Công nghiệp điện tử giữa hai năm 2016 và 2015 cho thấy theo chiều hướng thay đổi là “tiêu cực” trong thứ hạng nhóm và thứ hạng tổng. Xét theo thứ hạng doanh nghiệp trong ngành, số lượng doanh nghiệp tăng bậc và giảm bậc là tương đương nhau.
 
Danh sách các doanh nghiệp đạt chỉ số tốt nhất trong ngành
 
Từ số liệu quy điểm theo 6 nhóm chỉ tiêu chính, ta có danh sách doanh nghiệp đạt chỉ số tốt nhất trong ngành bao gồm:
- Doanh nghiệp đạt thứ hạng cao nhất trong tổng số so sánh với các doanh nghiêp trong ngành. Được thể hiện: Tên doanh nghiệp (thứ hạng doanh nghiệp trong tổng số)
- Các doanh nghiệp đạt chỉ số tốt nhất là các doanh nghiệp đạt điểm tổng hợp cao nhất theo 6 nhóm chỉ tiêu chính. Được thể hiện: Tên doanh nghiệp (điểm tổng hợp)
Dưới đây là danh sách doanh nghiệp đạt chỉ số tốt nhất trong ngành – ngành Công nghiệp điện tử
• Thứ hạng cao nhất trong tổng số
Công ty Cổ phần Viettronics Tân Bình (543)
• Chỉ số thanh toán tốt nhất
Công ty Cổ phần Viettronics Tân Bình (298,06)
• Chỉ số hiệu quả tốt nhất
Công Ty Cổ Phần Điện tử Bình Hoà (41,66)
• Chỉ số đòn bẩy tốt nhất
Công ty Cổ phần Viettronics Tân Bình (140,85)
• Chỉ số sinh lời tốt nhất
Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Công nghệ Điện tử - Viễn Thông (440,88)
• Hệ số bảo toàn vốn tốt nhất
Công ty Cổ phần Viettronics Tân Bình (6,85)
• Chỉ số doanh thu tốt nhất
Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Công nghệ Điện tử - Viễn Thông (0,49)

Thứ hạng của các doanh nghiệp đạt chỉ số tốt nhất trong ngành được thể hiện trong bảng Thứ hạng các doanh nghiệp xét theo ngành.