Trong giai đoạn hội nhập hiện nay, sở hữu trí tuệ ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội, giúp nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của sở hữu trí tuệ. Tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ vẫn chưa có chiều hướng thuyên giảm. Nhiều hàng hóa trong nước có uy tín bị làm giả, làm nhái. Điều này gây thiệt hại cho người tiêu dùng, xâm phạm quyền của các chủ sở hữu, làm cho các doanh nghiệp sụt giảm về doanh số và lợi nhuận.

Nhằm phản ánh thực trạng cũng như hệ lụy của việc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam; chỉ rõ những hạn chế trong việc quản lý, giám sát và đề ra những giải pháp hợp lý và kịp thời giúp hạn chế và đẩy lùi tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam, giúp các doanh nghiệp làm ăn chân chính hoạt động ngày càng hiệu quả; được sự chỉ đạo của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Báo Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức Tọa đàm trực tuyến:  Bảo vệ, phát triển tài sản trí tuệ trong thời đại công nghiệp 4.0

Tham gia tọa đàm có ông Nguyễn Thanh Bình – Giám đốc TT phát triển tài sản trí tuệ, Cục Sở hữu trí tuệ; Ông Trần Mạnh Hùng – chuyên gia  SHTT, trọng tài viên VIAC, Luật sư thành viên công ty Luật Baker & Mckenzie Việt Nam; Ông Đỗ Thanh Lam – Tổng Thư ký Hiệp hội Chống hàng giả và bảo vệ Thương hiệu Việt Nam; Ông Nguyễn Viết Hồng – Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty CP Phát triển Khoa học công nghệ Vina (Vina CHG); Ông Nguyễn Quang Ngọc – Giám đốc  Cty Luật SHTT; Ông Đoàn Thanh Hòa – đại diện Cty Karofi  Việt Nam cùng đại diện các cơ quan thông tấn báo chí.

Đúng 14h, chương trình tọa đàm bắt đầu:

Bàn chủ tọa (từ trái qua phải): Ông Nguyễn Linh Anh - Phó Tổng biên tập Báo Diễn đàn Doanh nghiệp; Ông Nguyễn Thanh Bình Giám đốc TT phát triển tài sản trí tuệ, Cục Sở hữu trí tuệ; Luật sư Trần Hữu Huỳnh - Chủ tịch Trung tâm Trọng tài quốc tế

Bàn chủ tọa (từ trái qua phải): Ông Nguyễn Linh Anh - Phó Tổng biên tập Báo Diễn đàn Doanh nghiệp; Ông Nguyễn Thanh Bình Giám đốc TT phát triển tài sản trí tuệ, Cục Sở hữu trí tuệ; Luật sư Trần Hữu Huỳnh - Chủ tịch Trung tâm Trọng tài quốc tế

Phát biểu khai mạc Toạ đàm, ông Nguyễn Linh Anh – Phó Tổng biên tập Báo Diễn đàn Doanh nghiệp cho biết, mới đây, tại phiên họp đầu tiên của Đại hội đồng Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) lần thứ 49, đại diện 191 Quốc gia thành viên đã nhất trí bầu Đại sứ Việt Nam, ông Dương Chí Dũng vào vị trí Chủ tịch Đại hội đồng Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới nhiệm kỳ 2018-2019. Đây là sự ghi nhận của Thế giới đối với những nỗ lực của VN trong công cuộc bảo hộ sở hữu trí tuệ. Điều này cũng khẳng định rằng, trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu và rộng, cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) trở nên đặc biệt quan trọng và trở thành mối quan tâm hàng đầu trong các mối quan hệ kinh tế quốc tế. Từ khi VN trở thành thành viên của WTO, vấn đề bảo vệ quyền SHTT, chống sản xuất, buôn bán hàng giả ngày càng được quan tâm hơn.

Theo ông Linh Anh, ở bình diện doanh nghiệp, một nghiên cứu mới đây của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới lần đầu tiên đưa ra những con số tính toán về giá trị của “vốn vô hình” trong chuỗi giá trị toàn cầu với gần 1/3 giá trị sản phẩm chế tạo được bán ra trên toàn cầu thông qua việc bảo hộ sở hữu trí tuệ thương hiệu, công nghệ và thiết kế.

“Nhưng dù là vốn vô hình cho các DN, sở hữu trí tuệ trong thời đại cách mạng 4.0 lại ngày càng có giá trị, bởi hơn lúc nào hết, vốn vô hình này sẽ ngày càng có quyết định rất quan trọng số phận và tài sản của các doanh nghiệp trong chuỗi giá trị toàn cầu hiện nay” – ông Linh Anh nói.

ông Nguyễn Linh Anh – Phó Tổng biên tập Báo Diễn đàn Doanh nghiệp phát biểu khai mạc tọa đàm

Ông Nguyễn Linh Anh – Phó Tổng biên tập Báo Diễn đàn Doanh nghiệp phát biểu khai mạc tọa đàm

Bên cạnh đó, cũng theo ông Linh Anh, với việc ký kết FTA với nhiều Quốc gia trên thế giới, VN cần trang bị và khắc phục những điểm yếu về sở hữu trí tuệ để bảo vệ vốn vô hình của các DN, nhất là các DNNVV.“Tuy nhiên, dù Luật SHTT đã ra đời cách đây hơn 10 năm, nhưng hiện nay, tình trạng xâm phạm SHTT VN vẫn khá phổ biến và ngày càng phức tạp, đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục có những giải pháp mạnh mẽ và hiệu quả hơn” – ông Linh Anh cho biết – “Toạ đàm hôm nay được diễn ra với kỳ vọng sẽ phản ánh rõ nét các thực trạng về SHTT và đưa ra được những khuyến nghị của các cơ quan quản lý, các chuyên gia và từ thực tế hoạt động của các doanh nghiệp”.

Luật sư Trần Hữu Huỳnh - Chủ tịch Trung tâm Trọng tài quốc tế: Trong thách thức, môi trường pháp lý liên quan đến bảo hộ quyền tài sản của Việt Nam hiện nay đang có vấn đề nên hôm nay ta phải làm sâu hơn ý nghĩa của nó, có phải thực sự như vậy không? Bởi ta yếu về bảo vệ quyền tài sản, yếu về quyền thực thi hợp đồng. 
Với các khách mời có tính đại diện cao như chuyên gia, luật sư, tổ chức về chống hàng giả, các doanh nghiệp, tọa đàm sẽ tập trung thảo luận vào các vấn đề chính: 
Thứ nhất, nhìn lại thực trạng đăng ký sở hữu tri tuệ của các DNVN, chủ yếu ở góc độ doanh nghiệp.
Thứ hai, vấn đề vi phạm quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam hiện nay như thế nào?
Thứ ba, đi sâu vào tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam. 
Phần 1: Nhìn lại thực trạng đăng ký sở hữu tri tuệ của các DNVN, chủ yếu ở góc độ doanh nghiệp. 
Chia sẻ về thực trạng của việc đăng kí sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp Việt Nam, trong đó có doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp Start – up, ông Trần Mạnh Hùng – chuyên gia SHTT, trọng tài viên VIAC, Luật sư thành viên công ty Luật Baker & Mckenzie Việt Nam nhận định: Đã có những tiến bộ song sự tiến bộ này chưa như chúng ta mong đợi”.
Ông Trần Mạnh Hùng – chuyên gia SHTT, trọng tài viên VIAC, Luật sư thành viên công ty Luật Baker & Mckenzie Việt Nam

Ông Trần Mạnh Hùng – chuyên gia SHTT, trọng tài viên VIAC, Luật sư thành viên công ty Luật Baker & Mckenzie Việt Nam

 
Cũng theo ông Hùng, việc đăng kí các thủ tục xác lập nhãn hiệu với những thủ tục đơn giản, chi phí rẻ chưa được các doanh nghiệp chú trọng, đặc biệt là các doanh nghiệp start – up. Đây cũng là điểm khác biệt giữa doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp nước ngoài khi bắt đầu đầu tư vào Việt Nam. Họ luôn chú trọng đến việc đăng kí thương hiệu trước khi đầu tư vào Việt Nam. Những điều vừa nêu cho thấy, thực trạng đăng ký quyền sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp Việt Nam chưa được cải thiện nhiều. Vì vậy, việc mất quyền thương hiệu là đương nhiên. Ông Hùng hy vọng trong một tương lai gần điều này sẽ được cải thiện. 
Ông Nguyễn Thanh Bình - Giám đốc TT phát triển tài sản trí tuệ: Thực tế trong 10 năm trở lại, số lượng đơn đăng ký của doanh nghiệp Việt trong nước đã tăng đáng kể, đặc biệt sau Luật Sở hữu trí tuệ 2005 có hiệu lực. Cùng với Luật, các cơ quan Nhà nước đã vào cuộc mạnh mẽ.
Ông Nguyễn Thanh Bình - Giám đốc TT phát triển tài sản trí tuệ

Ông Nguyễn Thanh Bình - Giám đốc TT phát triển tài sản trí tuệ

 
Theo thống kê, trung bình mỗi năm, số lượng đơn đăng ký sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp tăng từ 7 -`15% mỗi năm. Mặc dù đã cải thiện, tuy nhiên thực tế chưa đáp ứng được yêu cầu bởi số lượng đăng ký của doanh nghiệp Việt Nam có giấy phép đăng ký kinh doanh thường dao động ở mức 500.000 - 600.000 doanh nghiệp hàng năm. Nhưng doanh nghiệp thành lập cao thì cũng có nhiều doanh nghiệp giải thể. Do đố, số văn bằng Cục Sở hữu trí tuệ cấp ra từ 2005 đến nay chưa đến 300.000 văn bằng, mà trong đó, chưa kể đến nhiều doanh nghiệp lĩnh vực dược có đến 100-200 nhãn hiệu, tương đương 200 văn bằng/một doanh nghiệp. 
Điều này cho thấy nhận thức của doanh nghiệp chưa cao, có nhiều doanh nghiệp có nhãn hiệu nhưng tự khai thác, chưa đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền dẫn đến không tránh được việc mất nhãn hiệu, khi xảy ra cũng không thể đòi lại được. Đặc biệt sở hữu trí tuệ ở dạng vô hình nhưng lại tạo ra tài sản hữu hình cho doanh nghiệp do đó doanh nghiệp cần đăng ký để nhà nước có căn cứ bảo hộ cho nhãn hiệu, sản phẩm. 
Ở nước ngoài cũng vậy, 10 năm trước, cà phê Trung Nguyên bị mất nhãn hiệu tại Mỹ, mặc dù sau đó đã có sự giúp đỡ để doanh nghiệp lấy lại nhãn hiệu, nhưng thực chất lúc đó đơn vị này chưa được công nhận sở hưũ trí tuệ tại Việt Nam. Do đó khi bị mất nhãn hiệu ở nước ngoài, nhiều doanh nghiệp lại không thể bảo vệ được nhãn hiệu đó. 
Nhận thức của doanh nghiệp Việt về đăng ký sở hữu trí tuệ trong và ngoài nước còn hạn chế. Cách đây mấy năm, cà phê Buôn Mê Thuột cũng bị mất nhãn hiệu bởi chính khách hàng của Hiệp hội đó tại Trung Quốc. Nó như hồi chuông cảnh tỉnh cho các doanh nghiệp Việt Nam. Các doanh nghiệp đã quan tâmnh hơn đến việc đăng ký ra nước ngoài. Tuy nhiên cũng có 2 mặt, có nhiều doanh nghiệp lớn muốn đăng ký tất cả ra các nước của WTO, nhưng vấn đề cần để ý là quyền đâu thì bảo hộ ở đó, doanh nghiệp không cần thiết phải đăng ký tất cả. Doanh nghiệp có tiềm năng xuất khẩu ở thị trường nào thì quan tâm bảo vệ tại thị trường đó, đó mới là mốc cần hướng tới.
Ông Trần Mạnh Hùng

Ông Trần Mạnh Hùng

 
Ông Trần Mạnh Hùng: Tôi xin nói thêm về vấn đề nhãn hiệu thì một trong những khó khăn của các DN Việt Nam khi đăng ký nhãn hiệu ra nước ngoài đó là sự thiếu hiểu biết về đăng ký nhãn hiệu nước ngoài như thế nào. Bên cạnh đó, thực tế khi chúng tôi gửi tới DN bản nộp chào thầu tới nước mà DN quan tâm thì người có thẩm quyền để quyết định lại luôn hỏi rằng có phần trăm hay không? Chính vì vậy, các DN đã tự giới hạn quyền nộp đơn của mình. Về vấn đề sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp thì theo thống kê báo chí nước ngoài vẫn nói Việt Nam là nước ít có đóng góp nhất về tài sản sáng tạo. So với Trung Quốc – nước ở gần Việt Nam thì họ lại ý thức vấn đề này rất lớn. 
Chúng tôi có đăng ký sáng chế ở Mỹ cho DN Việt Nam thì phòng nghiên cứu phát triển tập đoàn chỉ có bản mô tả dày 3 trang giấy. Khi đưa sang Mỹ để viết theo yêu cầu cơ quan sang chế của Mỹ thì lên tới 45 trang và khả năng viết được bản mô tả như vậy rất là khó. 
Về vấn đề tính theo phí để viết bản mô tả như vậy là 25 ngàn đô và phí chúng tôi nhận được là 2,5 ngàn đô. Chúng tôi cũng muốn giúp đỡ các DN Việt Nam nhưng không thể mãi như thế vì tiền không đủ để trả cho luật sư ở Mỹ họ viết. Vấn đề kiểu dáng công nghiệp cũng tương tư như vậy. Khi chúng ta không có đủ tiềm lực tài chính cũng như hiểu biết về đăng ký tại nước ngoài thì chúng ta không thể phát triển các tài sản sáng tạo được. 
Bà Hải Yến - Công ty Luật Quốc tế Thiên Việt: Trong quá trình xác lập quyền, chúng tôi gặp phải nhiều vấn đề: Cục sở hữu trí tuệ chậm trễ trong việc xử lý đơn, thẩm định nội dung khiến tồn đọng rất nhiều. Lý do chậm trễ thường được đưa ra là số lượng đơn quá nhiều so với số lượng nhân sự xử lý. Để đảm bảo chất lượng của quá trình này, họ cần thời gian xử lý.
 
Bà Hải Yến - Công ty Luật Quốc tế Thiên Việt

Bà Hải Yến - Công ty Luật Quốc tế Thiên Việt

 
Chia sẻ về số đơn sáng chế của VN ít, ông Nguyễn Thanh Bình - Giám đốc Trung tâm Phát triển Tài sản Trí tuệ cho biết, hàng năm Cục sở hữu trí tuệ nhận được khoảng từ 3 – 4 nghìn đơn đăng kí. Tuy nhiên, số đơn đăng kí của người Việt thì chỉ chiếm khoảng 10%, còn lại là của người, doanh nghiệp nước ngoài. Tuy nhiên, đây chưa phải là điều đáng nói. Trong số 10% đơn đăng kí đó, số đơn đăng ký thành công của người Việt chỉ chiếm 10 – 15%, trong khi của người, doanh nghiệp nước ngoài, tỷ lệ này là 50%. 
Ông Bình chỉ ra, một trong những nguyên nhân dẫn dến tình trạng này đó là do đơn mô tả đăng ký sở hữu trí tuệ của người, doanh nghiệp Việt Nam chưa hoàn thiện và khá sơ sài. Người và doanh nghiệp nước ngoài nộp đơn với bản mô tả rất chi tiết và hoàn chỉnh, bởi trước khi họ gửi đến Cục sở hữu trí tuệ họ đã gửi đến văn phòng Luật sư. Các văn phòng Luật sư tiếp nhận những bản mô tả hoàn chỉnh này, họ chỉ cần dịch thuật, chỉnh sửa cho phù hợp với Luật của nước sở tại. 
Những bản mô tả của đơn đăng ký có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi cho người đăng ký. Bản mô tả càng chi tiết, cụ thể và rõ ràng thì Cục càng bảo vệ cho người đăng ký nhiều hơn. 
Ông Bình cũng chỉ ra, Cục và cán bộ Cục phải đóng vai trò trong việc giúp cho người, doanh nghiệp nhận diện được tài sản cần phải đăng ký sở hữu trí tuệ. Đây cũng là một điều cần phải phát huy trong thời gian tới. 
Ông Nguyễn Viết Hồng – Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty CP Phát triển Khoa học công nghệ Vina (Vina CHG): SHTT cực kỳ rộng nhưng nhận thức của doanh nghiệp lại rất nghẽn. Trước hết là xoay quanh bản mô tả, mô tả là vấn đề rất khó vì sáng chế là kiểu sáng tạo chắp vá, không phải sáng tạo 100% nên khó khăn trong việc mô tả. Đây là hạn chế của doanh nghiệp trong việc sáng chế. Nếu không sáng chế thì đất nước không phát triển được.
 
Ông Nguyễn Viết Hồng – Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty CP Phát triển Khoa học công nghệ Vina (Vina CHG):

Ông Nguyễn Viết Hồng – Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty CP Phát triển Khoa học công nghệ Vina (Vina CHG):


Về việc xác lập quyền SHTT của doanh nghiệp, khi doanh nghiệp nộp đơn thì mới có giấy tiếp nhận đơn chứ chưa được cấp. Nhưng doanh nghiệp lại hiểu nhầm là sáng chế đó đã được công nhận rồi, họ ung dung sản xuất và tung sản phẩm ra thị trường. Chúng tôi đã gặp nhiều trường hợp như vậy. Do đó, doanh nghiệp cần lưu ý khi nhận được văn bằng mới là được công nhận, có 80% doanh nghiệp đang nhầm lẫn giữa giấy xác nhận tiếp nhận đơn và văn bằng công nhận sáng chế. Vì vậy, cần truyền thông cho doanh nghiệp hiểu rõ, việc tiếp nhận đơn không phải là công nhận sáng chế. Doanh nghiệp chưa hiểu sâu về xác nhận quyền trong việc xây dưng một chủ thể quyền. 
Về thời gian tiếp nhận và xử lý đơn đăng ký SHTT của doanh nghiệp, thời gian kéo dài của việc chờ đợi có những đơn quá hạn gần 2 năm chưa cấp Đây là một trong những khó khăn cho doanh nghiệp bởi doanh nghiệp không thể chờ được, cục phải nhanh hơn nữa. Công nghiệp 4.0 phải nhanh để giúp doanh nghiệp bắt nhịp.
Ông Đỗ Thanh Lam – Tổng Thư ký Hiệp hội Chống hàng giả và bảo vệ Thương hiệu Việt Nam

Ông Đỗ Thanh Lam – Tổng Thư ký Hiệp hội Chống hàng giả và bảo vệ Thương hiệu Việt Nam

 
Ông Đỗ Thanh Lam – Tổng Thư ký Hiệp hội Chống hàng giả và bảo vệ Thương hiệu Việt Nam: Chúng ta bảo vệ, phát triển tài sản trí tuệ đi sau rất nhiều nước. Do đó, chúng ta có thể kết hợp vừa học hỏi vừa có thể cải biến và vừa phải phát triển. Tôi cho rằng chúng ta cần phải đi thực tế nhiều hơn, trên cơ sở tìm được người có sáng kiến tốt thì đến xem và giúp họ hoàn thiện hồ sơ để thực hiện bảo hộ tài sản trí tuệ. Người Việt có câu “liệu cơm gắp mắm”, ở phương diện nào đó thì là tự an ủi mình nhưng nếu vận dụng thì cũng thấy hữu ích, và tôi cho rằng chúng ta cần kết hợp cả hai vừa phát triển nhưng cũng cần phải hỗ trợ từ thực tế, từ những bước đầu tiên. 
Ông Nguyễn Thanh Bình: Thực tế tồn tại có một số trường hợp không đáp ứng được yêu cầu về thời gian.
Nhìn một cách tổng thể, thời hạn xác nhập nhãn hiệu, DN chưa hiểu biết rõ. Chúng tôi hàng năm tổ chức rất nhiều hội thảo, chưa kể có rất nhiều dự án tuyên truyền phổ biến pháp luật về quy trình như Đơn nhãn hiệu. 
Kể từ ngày nộp đơn trong thời hạn 1 tháng, Cục phải thẩm định hình thức đơn. Riêng khâu này rất ít khi bị chậm. Còn những trường hợp hơn 1 tháng là do đơn còn thiếu sót như khai sai, thiếu... 
Sau đó, Cục có 2 tháng chuẩn bị và đăng thông báo, 9 tháng để công bố cho mọi người biết. Đến tháng thứ 13 mới biết được có được cấp bằng hay không và các thủ tục hành chính đến với người nộp đơn nhanh nhất cũng cũng phải tháng thứ 14 để biết đơn ấy có được cấp bằng hay không. Như vậy, nhanh nhất 1,5 năm đúng theo pháp luật quy định.
Ông Nguyễn Thanh Bình

Ông Nguyễn Thanh Bình

 
Tuy nhiên, thời gian qua có một số trường hợp quá tải do số lượng đơn nhiều. Một nhân sự tuyển vào phải sau 3 năm mới đáp ứng yêu cầu. 
Có những đơn 2  năm thì phải có sự trao đổi, qua lại giữa các bên. Trong rất nhiều trường hợp, ý kiến qua lại phải mất đến 6 tháng. Về sáng chế thời gian còn dài hơn rất nhiều. 
Ông Đoàn Thanh Hòa - Công ty Karofi Việt Nam: Thời gian từ khi nộp đơn tới khi nhận bằng sáng chế là 2 năm. Đây dường như là một khoảng thời gian khá dài đối với những doanh nghiệp sáng tạo các mẫu mã sản phẩm của mình như Karofi. 
Công ty Karofi Việt Nam luôn đặt mục tiêu phát triển sản phẩm là số một. Vì vậy hàng năm Karofi luôn tự mình cải tiến sản phẩm 1 năm 2 lần. Các sản phẩm do tự Karofi sáng chế, khi mang các sản phẩm này đi đăng kí, thì phải đợi đến 2 năm mới nhận được bằng. Trong khi đó, 2 -3 tháng sau, ngoài thị trường đã có các sản phẩm “nhái” sản phẩm của Karofi. Thới gian 2 năm để nhận bằng sáng chế cho vòng đời một sản phẩm là quá lâu. Khi nhận được bằng sáng chế thì khi ấy cũng không còn ý nghĩa. Vì vậy, doanh nghiệp mong muốn các cơ quan quản lý và các đơn vị liên quan có một biện pháp nào đó để các bên biết rằng sản phẩm của doanh nghiệp đang trong thời gian đăng kí bảo vệ sở hữu trí tuệ để có tính răn đe. 
Ông Trần Mạnh Hùng: Không cần nhìn đâu xa, ngay tại Philippines - đất nước không phải là quá phát triển so với Việt Nam, nhưng họ đã đưa ra chỉ thị mọi đơn kiến nghị về SHTT phải được xử lý trong vòng 8 tháng. Tại nước bạn Lào và Campuchia cũng bắt đầu phát triển mạnh mẽ công tác này. Việc nộp đơn rất thuận tiện và không phải dịch sang tiếng Khmer và chỉ mất 6 tháng đề hoàn thành từ lúc tiếp nhận đơn đến cấp bằng sáng chế cho doanh nghiệp. 
Ông Nguyễn Thanh Bình: Một thực tế là 5 năm trước đây, chúng tôi được đi thăm quan ở Trung Quốc và thấy rằng họ giải quyết cả triệu đơn. Trung Quốc có 5 trung tâm thẩm định sáng chế và mỗi trung tâm có tới 1.000 người. Nhưng ở nước ta, hiện cũng đầu tư rất nhiều cho khoa học công nghệ nhưng ở nhiều lĩnh vực khác nhau và sở hữu trí tuệ chỉ là một phần. Chúng tôi cũng đang tập trung đầu tư khoa học công nghệ vào hoạt động và như mọi người thấy lĩnh vực công chứng cũng đã công nghệ hoá đi rất nhiều. Phải nói rằng hiện nay chúng tôi đã đơn giản hoá rất nhiều và xây dựng các phần mềm tra cứu kiến tạo. Chúng tôi rất mong các DN chia sẻ và hy vọng thời gian tới các DN sẽ thấy được cải tiến nhiều hơn nữa. 
Phần 2: Vấn đề thực thi bảo hộ sở hữu trí tuệ 
Ông Đỗ Thanh Lam – Tổng Thư ký Hiệp hội Chống hàng giả và bảo vệ Thương hiệu Việt Nam cho biết bức tranh khái quát về hàng giả, hàng kém chất lượng. 
Mỗi năm Cục quản lý thị trường xử lý trên 100.000 vụ vi phạm. Mới đây nhất là vụ Khaisilk, có những vụ việc diễn ra ngay tại cửa ngõ Hà Nội. Mặc dù đã phát hiện, thu giữ và xử lý nhiều vụ nhưng theo đánh giá của Chính phủ, hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ vẫn diễn biến phức tạp, có xu hướng gia tăng, xuất hiện nhiều chiêu tinh vi, thường xuyên thay đổi phương thức thực hiện và có yếu tố nước ngoài.
Ông Đỗ Thanh Lam – Tổng Thư ký Hiệp hội Chống hàng giả và bảo vệ Thương hiệu Việt Nam

Ông Đỗ Thanh Lam – Tổng Thư ký Hiệp hội Chống hàng giả và bảo vệ Thương hiệu Việt Nam

 
Bản thân Thủ tướng hiện nay trong các buổi làm việc với Bộ Công thương, cục quản lý thị trường đã nói nhiều về vấn đề này và chỉ đạo sát sao. Mặt hàng nào mà có chênh lệch, có thu lời lớn rất dễ bị làm giả, bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Địa bàn hàng giả không chỉ ở các thành phố lớn mà lan ra các địa phương, kể cả các các DN lớn vẫn bị vi phạm.  
Ông Đoàn Thanh Hòa - Cty Karofi: Doanh nghiệp chúng tôi cũng bị làm nhái, bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ rất nhiều. Có đơn vị ở Hải Phòng làm giả bình lọc nước nhưng dùng luôn nhãn mác của Karofi dán vào, hoặc nhiều doanh nghiệp nhái tên thành Karoli,… Doanh nghiệp cũng kết hợp với cơ quan chức năng để xử lý để đơn vị đó tự nhận lỗi và rút lui. Tuy nhiên, tình trạng này vẫn kéo dài và chưa chấm dứt. Điều doanh nghiệp băn khoăn nhất đó là đây là sản phẩm được người tiêu dùng sử dụng trực tiếp, ảnh hưởng tới sức khoẻ người dùng, doanh nghiệp đã đầu tư chi phí cho việc kiểm soát chất lượng sản phẩm rất cao dẫn đến giá thành cao, trong khi đó, doanh nghiệp làm nhái nhập nguồn không rõ ràng, bán giá thấp hơn sản phẩm chính hãng của chúng tôi một chút nên lợi nhuận rất cao. Đây là vấn đề rất nhức nhối với Karofi.
Ông Đoàn Thanh Hòa - Cty Karofi

Ông Đoàn Thanh Hòa - Cty Karofi

 
Ông Đỗ Thanh Lam bổ sung: Nhận thức về phòng chống hàng giả, hàng bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của cán bộ cơ quan trong phòng chống hàng giả, hàng bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã tăng lên. Điều này được thể hiện qua vụ việc VN pharma. Liên quan đến vụ việc này, Hiệp hội phòng chống hàng giả, hàng bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cũng đã gửi kiến nghị lên các cơ quan liên quan như công an và Cục quản lý cạnh tranh. Kiến nghị này đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm của dư luận. 
Ông Trần Mạnh Hùng: Tôi cho rằng không chỉ DN nhỏ mà DN lớn cũng có thể làm hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, bởi sự tư lợi của bản thân DN rất lớn. Tôi lấy ví dụ một quán café thì ngoài chi phí chung cho kinh doanh, chi phí không chính thức cũng rất lớn. Chính vì vậy mà đôi khi họ sẵn sàng làm tất cả mọi thứ để kinh doanh có kết quả.
Chúng ta cũng đã đưa ra nhiều biện pháp để hạn chế nhưng nếu chỉ dừng lại ở biện pháp hành chính thì rõ ràng chưa triệt để. Có thể phạt, cấm và đóng cửa một cửa hàng nhưng vài ba tháng sau nó lại mọc lên. Do đó, hiện nay Luật của chúng ta đang bắt đầu thực hiện chuyển dần từ biện pháp hành chính sang dân sự và hình sự nhưng thực tế việc thực hiện này còn rất nhiều khó khăn. Ví dụ như Điều khoản trong bộ Luật hình sự mới đã mở ra quyền hình sự hoá khi anh buôn bán sản xuất tiêu thụ hàng giả nhãn hiệu nhưng phải xem xét đến các hành vi đó quy mô thương mại hay không và nhiều vấn đề khác. Hành lang pháp lý như vậy nhưng cơ quan thực thi có dám làm hay không? Bên cạnh đó, chúng ta cũng chưa có toà chuyên trách để giải quyết các vấn đề sở hữu trí tuệ. Điều này cũng hạn chế việc xử lý các vấn đề này. 
Ông Nguyễn Viết Hồng – Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty CP Phát triển Khoa học công nghệ Vina (Vina CHG): Rất khó khăn cho các DN muốn làm ăn một cách đàng hoàng, chân chính.
Đối tượng người tiêu dùng còn thích dùng hàng xâm phạm quyền SHTT vì giá thấp, nhiều mặt hàng ảnh hưởng đến sức khoẻ nên còn lộng hành ngoài thị trường. Còn DN rất sợ khiếu nại và ngại tiếp xúc với cơ quan hành chính nhà nước. Do vậy làm sao để chính các DN thay đổi được tư duy này. Khi tiếp xúc với các DN Nhật Bản, tôi thấy cách tiếp cận vấn đề này của họ khác hẳn DN Việt Nam. Khi phát hiện hàng giả, hàng hàng xâm phạm quyền SHTT, họ phải truyền thông để cho người tiêu dùng biết, trong khi DN Việt Nam làm xong rồi thì không dám cho báo chí biết, thậm chí không cho cơ quan truyền thông tham gia cùng. Việc này đã vô tình tiếp tay cho hàng giả, hàng xâm phạm quyền SHTT, gây hkó khăn cho các DN muốn làm ăn một cách đàng hoàng, chân chính.
Giải pháp hiện nay là việc ứng dụng tem chống hàng giả chất lượng cao, ứng dụng KHCN, tem chống hàng giả để có thể truy xuất nguồn hàng. Đây là giải pháp doanh nghiệp phải đầu tư để bảo vệ sản phẩm của mình. Hiện nay, chúng ta thấy một điều, rất nhiều sai phạm mới chỉ dừng ở mức độ xử lý hành chính, hình sự thì rất hiếm.
Đề cập về liên quan đến chống hàng giả, ông Nguyễn Thanh Bình có nhắc lại về hệ thống pháp luật của VN:
Hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ của Việt Nam là tiến bộ và tương thích với WTO và cả TPP. Đây là một bước tiến mới của pháp luật Việt Nam nói chung và Luật sở hữu trí tuệ nói riêng. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, việc thực thi các luật này trong thực tiễn không tránh khỏi tình trạng lúng túng và thiếu hiệu quả. Hiện nay, chế tài của Luật sở hữu trí tuệ mới dừng lại ở việc xử lý hành chính, mà thiếu hình sự. Trong khi đó, xử lý hành chính thì vẫn còn rườm rà. Để nâng cao hiệu quả thực thi, ông Bình cho rằng bản thân doanh nghiệp phải là đối tượng chủ động, vì đây là quyền lợi và nghĩa vụ của doanh nghiệp. Doanh nghiệp hãy tự tạo ra một rào chắn bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp mình, khi đó, doanh nghiệp có kêu cứu thì các cơ quan có liên quan mới có cơ sở để bảo vệ và hỗ trợ kịp thời.
Bà Hải Yến: Phải sử dụng biện pháp tư pháp như cấm và loại bỏ các dấu hiệu vi phạm bởi biện pháp hành chính trong một số trường hợp chưa phát huy hiệu quả. Nếu coi việc làm giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là một căn bệnh thì các biện pháp hành chính chỉ có thể chữa trị được triệu chứng chứ chưa điều trị được tận gốc căn bệnh. Khi mà chúng tôi có quyết định giám định của Viện SHTT, thì quyết định này chỉ được coi là có giá trị tham khảo với cơ quan quản lý thị trường mà không có giá trị bắt buộc, khiến quản lý thị trường không thể xử phạt, dẫn đến sức mạnh của biện pháp hành chính chưa cao.
Ông Đỗ Thanh Lam: Trước thực trạng hàng giả và nâng cao hiệu quả chống hàng giả thì cần tập trung 7 vấn đề:
Thứ nhất, mặc dù công tác truyền thông đã thực hiện nhưng cần tiếp tục tăng cường đẩy mạnh hơn nữa công tác truyền thông, trong đó tập trung xác định vấn đề truyền thông cụ thể là gì để người dân biết. Đối tượng truyền thông tới tất cả mọi đối tượng từ người dân, tới cơ quan, doanh nghiệp. Hình thức là rất quan trọng để đưa được thông tin tới từng đối tượng cụ thể.
Thứ hai, rà soát các văn bản luật để xem xét trong bối cảnh thực tế để sửa đổi phù hợp. Thậm chí đưa chế tài rút giấy phép vào trong luật đối với việc làm hàng giả.
Thứ ba, cần có một tổ chức tư vấn đứng bên liên quan tới sở hữu trí tuệ để thẩm định các vụ việc về vi phạm hàng giả, nhãn hiệu…. Thậm chí chúng ta cũng cần thành lập toà chuyên trách về lĩnh vực sở hữu trí tuệ. .
Thứ tư, đẩy mạnh công tác kiểm tra giám sát. Nâng cao trách nhiệm người đứng đầu. Vấn đề kiểm tra nội bộ cũng cần phải thực hiện.
Thứ năm, DN phải xây dựng chiến lược kế hoạch để bảo vệ hàng hoá của mình. DN phải kết hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng để thực hiện.
Thứ sáu, người tiêu dùng phải nhận thức được tác hại của việc sử dụng hàng giả.
Thứ bảy, tố giác những việc làm sai trái để đưa ra pháp luật.
Ông Trần Mạnh Hùng: Chúng ta nên tôn trọng các chuyên gia bởi họ là người có chuyên môn cao. Toà là cơ quan cao nhất để đưa ra quyết định làm sao để đi đến kêt quả cuối cùng. Còn chế tài hiện nay không có tính răn đe.
Tóm tắt và ghi nhận ý kiến của các chuyên gia, Luật sư Trần Hữu Huỳnh cho rằng, trong những giải pháp mà các diễn giả, chuyên gia đã đề cập đến như kêu gọi sự tham gia của Hiệp hội doanh nghiệp, Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng, kêu gọi lòng yêu nước người Việt Nam sử dụng hàng Việt Nam, điểm mấu chốt để giải quyết được vấn đề này thì doanh nghiệp vẫn đóng vai trò là chủ động và quan trọng nhất.
Ban tổ chức tặng hoa các diễn giả

Ban tổ chức tặng hoa các diễn giả

Phát biểu bế mạc buổi Tọa đàm, ông Nguyễn Linh Anh nhận định buổi tọa đàm tuy diện ra trong thời gian ngắn (2 tiếng) nhưng đã đưa ra được thực trạng và giải pháp cho vấn đề này cả về góc độ quản lý, người tiêu dùng và DN. Tuy nhiên, liên quan tới vấn đề này còn rất nhiều câu hỏi. Những thắc mắc chưa được giải đáp có thể gửi câu hỏi về và Báo sẽ có trách nhiệm gửi câu hỏi tới các cơ quan liên quan trả lời.
Bạn đang đọc bài viết Bảo vệ, phát triển tài sản trí tuệ trong thời đại công nghiệp 4.0 tại chuyên mục Pháp luật của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan@dddn.com.vn, hotline: (024) 3.5771239,