Thủy điện nhỏ, gánh nặng lớn

Thủy điện nhỏ, gánh nặng lớn

28/10/2016 3:07 Chiều

(DĐDN) – LTS: Bộ TN – MT vừa công bố kết luận nhiều sai phạm liên quan đến việc thủy điện Hố Hô (Hương Khê, Hà Tĩnh) xả lũ gây thiệt hại cho người dân. Tuy vậy,  trong bài viết riêng cho DĐDN, GS TS Vũ Trọng Hồng – Hội Thuỷ lợi Việt Nam  cho rằng, lỗi đầu tiên là từ công tác quy hoạch bởi đã khoác lên vai thủy điện nhỏ một gánh nặng quá lớn.

ho-ho-copy

Trong đợt lũ vừa qua tại thuỷ điện Hố Hô, do vai đập có hiện tượng sạt trượt, đã phải mở cả ba cửa tràn, xả lưu lượng tới 1800m3/giây.

Nguồn năng lượng phát ra của nhà máy thuỷ điện là nhờ vào dòng chảy trên sông suối. Quá trình dòng chảy trên sông suối luôn biến động theo không gian và thời gian và thường không trùng với biến động nhu cầu về điện. Nhu cầu điện năng trong ngày thường thay đổi theo nhu cầu phụ tải, trong khi dòng chảy trong sông, suối lại ít biến động trong ngày; ngược lại nhu cầu điện năng trung bình trong một năm thay đổi không nhiều thì sự biến động dòng chảy trong năm lại rất lớn. Đó chính là cơ sở bài toán điều tiết dòng chảy thông qua hồ chứa nước. Trong một năm, khi mùa lũ đến, hồ chứa có nhiệm vụ tích lại nguồn nước, để sau đó, sang mùa khô sẽ sử dụng cho các nhu cầu về nước. Như thế, về nguyên tắc, hồ chứa đều tham gia giảm lũ cho hạ du.

“Lũ”chồng lũ” vì sai lầm trong quy hoạch

Song đối với hồ thuỷ điện nhỏ lại có tác dụng ngược lại: xả lũ có lúc còn lớn hơn lũ tự nhiên. Chính vì các hồ chứa thuỷ điện nhỏ, không có dung tích phòng lũ, nên không thể cắt giảm được lũ, hơn nữa khi hồ đã đầy nước mà có luc thì hồ chứa buộc phải xả nước xuống hạ du với lượng nước còn lớn hơn cả lũ tự nhiên. Cụ thể như thuỷ điện Hố Hô, do vai đập có hiện tượng sạt trượt, đã phải mở cả ba cửa tràn, xả lưu lượng tới 1800m3/giây.

Còn một nguyên nhân nữa mà hồ chứa thuỷ điện nhỏ không thể điều chỉnh giảm lượng nước xả xuống hạ du, mặc dù biết hạ du đang bị ngập sâu. Chính vì việc tính toán dung tích hồ là dựa trên dự báo lượng nước đến ngay từ đầu năm, nên mùa lũ đã tranh thủ tích trữ nước sớm để bảo đảm phát điện theo nhu cầu của biểu đồ phụ tải. Điều này dẫn đến tình trạng khi lũ đến, hồ đã đầy, buộc phải xả đi. Khác với những thuỷ điện lớn như Hoà Bình, Sơn La… đã thiết kế dung tích phòng lũ (Hoà Bình 4 tỷ mét khối), nhằm đảm bảo an toàn cho hệ thống đê sông Hồng về mùa lũ.. Đến đây, chúng ta mới hiểu nỗi lo về “lũ chồng lũ” của các hồ chứa thuỷ điện nhỏ của dư luận xã hội là có cơ sở.

Về lâu dài, chúng ta đều thấy loại nhà máy thuỷ điện nhỏ sẽ ngày càng gây ra nhiều rủi ro khó tránh nhưng vấn đề chúng ta cần giải bài toán “rủi ro” cho DN đầu tư thủy điện nhỏ.

Ngay từ năm 2013, theo nghị quyết của Quốc hội, yêu cầu phải rà soát các dự án thuỷ điện, các cấp chính quyền đã phê duyệt quy hoạch bậc thang thuỷ điện vừa và lớn trên 100 dự án, chiếm trên 70% tổng công suất lắp máy và các quy hoạch thuỷ điện nhỏ trên 1000 dự án, chiếm khoảng trên 20% tổng công suất lắp máy. Nói một cách khác, hệ thống thuỷ điện nhỏ này được sản sinh từ chiến lược phát triển thuỷ điện của nước ta. Chúng ta chủ trương xã hội hoá đầu tư thuỷ điện, chủ yếu thuỷ điện nhỏ, nhằm tận dụng mọi nguồn vốn của xã hội. Chính vì vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, gần 90% tiềm năng thuỷ điện đã được lập quy hoạch.

Vậy thái độ của chúng ta nên xử lý như thế nào đối với hệ thống thủy điện nhỏ này, bởi nhiều rủi ro bắt nguồn từ những sai sót trong hệ thống quản lý dự án xây dựng? Kinh nghiệm về quản lý nhà máy thuỷ điện ở nước Mỹ, thì năng lượng điện của những nhà máy thuỷ điện nhỏ như thuỷ điện Hố Hô dần dần sẽ được thay thế bằng nguồn năng lượng khác, để đi đến chấm dứt những sự cố ngập lụt như mùa lũ vừa qua.

Giải pháp “chia sẻ rủi ro”

Từ cách đánh giá trên, chúng ta có thể đề xuất một số giải pháp mang tính trước mắt, cũng như mang tính lâu dài, giải quyết mâu thuẫn về quyền lợi giữa nhà máy và người dân hạ lưu ở vùng ngập lụt.

Nhiệm vụ của giai đoạn đầu là phải điều chỉnh quy trình điều tiết hồ chứa về mùa lũ, mà thiết kế đã lập khi bàn giao công trình cho bên vận hành khai thác. Qua từng năm, quy trình này lại đươc điều chỉnh để sát với thực tế xuất hiện lũ trong hồ chứa. Nhiệm vụ này, theo Chỉ thị 21/TTg, phải do Bộ Công Thương hướng dẫn. Những quy trình này phải được UBND tỉnh phê quyệt cho ứng dụng vào thực tế. Điểm mấu chốt ở đây là do hồ thuỷ điện nhỏ không có dung tính phòng lũ, nên cần tích nước muộn, để đề phòng về cuối mùa thường gặp những trận lũ lớn. Nhưng nếu theo quy trình tích muộn mà lũ không về, thì nhà máy mất đi một lượng điện năng. Trước mâu thuẫn này, để giải quyết, thì rõ ràng cần bàn tay can thiệp của nhà nước. Sự can thiệp đó, được tác động lên giá bán điện của nhà máy, mà lâu nay do EVN thoả thuận. Vì vậy sự tác động của nhà nước trong việc điều chỉnh giá này rất có ý nghĩa đối với DN khi bị tổn thất do quy trình điều tiết.

Sau đó là quá trình để các nhà máy thuỷ điện nhỏ hoàn thành mục tiêu về kinh tế để chuyển sang kinh doanh khác. Cách giải bài toán “chia sẻ rủi ro” này như sau: Chúng ta dự kiến thời gian cho một nhà máy thuỷ điện nhỏ nào đó, chấm dứt hoạt động. Dựa vào khấu hao, chúng ta có thể biết tuổi thọ công trình là bao nhiêu năm. Song khi giải quyết cho nhà máy thuỷ điện ngừng hoạt động, thì không chỉ căn cứ vào tuổi thọ, mà còn xét về mức độ rủi ro có cao không để ngừng hoạt động sớm hơn. Điều này cũng được thể hiện trong giá bán điện của những nhà máy này. Như vậy cả hai nhiệm vụ trên có liên quan đến giá bán điện và có “bày tay” của nhà nước mới thành công được.

Mục tiêu của bài toán này, là giúp cho người dân giảm rủi ro do việc xả lũ của nhà máy. Mặt khác cũng bù lại chi phí của nhà máy khi phải thực hiện quy trình tích nước muộn. Kết quả mong muốn cuối cùng là những nhà máy, được sự hỗ trợ của nhà nước, thông qua giá bán điện, sẽ mau chóng kết thúc hoạt động của dự án thuỷ điện nhỏ.

 GS.TS. Vũ Trọng Hồng – Hội Thuỷ lợi Việt Nam

>> Lộ nhiều sai phạm liên quan đến việc xả lũ tại thủy điện Hố Hô

Tags :

Bài viết đã chặn phản hồi!

Tin khác đã đăng

Theo bạn, nữ doanh nhân nào có tầm ảnh hưởng nhất?
  • 6.78%
  • 5.08%
  • 6.78%
  • 3.39%
  • 20.34%
  • 8.47%
  • 1.69%
  • 1.69%
  • 15.25%
  • 18.64%
  • 6.78%
  • 5.08%