Tăng lương tối thiểu năm 2016: Vì sao 7 -10% là hợp lý?

Tăng lương tối thiểu năm 2016: Vì sao 7 -10% là hợp lý?

09/08/2015 10:15 Sáng

(DĐDN) – Cuộc họp bàn về mức lương tối thiểu của Hội đồng tiền lương quốc gia đã không thể đi đến thống nhất do có những quan điểm trái chiều. VCCI – đại diện chủ sử dụng lao động đã đề xuất mức tăng 7 – 10%. DĐDN trân trọng giới thiệu bài viết của ông Hoàng Quang Phòng – Phó Chủ tịch VCCI, Phó Chủ tịch Hội đồng tiền lương quốc gia nhằm khẳng định tính khoa học của đề xuất này.

visao13a
So sánh mức lương tối thiểu hàng tháng & phí BHXH + Công đoàn phí 2015 của Việt Nam so với các nước trong khu vực (Mức đóng của Người sử dụng lao động)

Theo quan điểm của VCCI, mức lương 7% là mức hợp lý phản ánh đúng năng lực cạnh tranh của DN. Trong quá trình thương thảo sau khi xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến điều kiện làm việc, đời sống của NLĐ, tổ chức đại diện NSDLĐ đã thảo luận và đưa ra mức điều chỉnh mức tăng lên 10% theo những phân tích cụ thể.

CPI đang ở mức thấp, DN gặp nhiều khó khăn

Mặc dù Quốc hội tán thành mục tiêu năm 2015 GDP tăng 6,2%, CPI khoảng 5%, tuy nhiên thực tế CPI 6 tháng đầu năm nay có tốc độ tăng tương đối thấp kể từ năm 2001 trở lại đây. Tính bình quân 6 tháng đầu năm 2015, chỉ số CPI tăng 0,86% so với cùng kỳ năm ngoái.

Trong khi đó, DN đang gặp nhiều khó khăn, cụ thể theo số liệu thống kê trong 7 tháng đầu năm 2015 đã có 37,829 DN ngừng hoạt động và giải thể, tăng 1,2% so với cùng ký năm ngoài trong đó tỷ lệ DN nhỏ và vừa chiếm 97%. Tại Báo cáo thường niên DNVN 2014 của VCCI, số lượng việc làm mới tại ra trong 3 năm gần đây giảm đáng kể. Trong Quý I/2015 cả nước có 52,43 triệu người có việc làm, giảm 99.000 người so với cùng kỳ quý I/2014. Quý I/2015, cả nước có 1.159,8 nghìn người trong độ tuổi lao động bị thất nghiệp (tăng 114,2 nghìn người so với năm 2014). Ngoài ra, hiện cả nước có 1,13 triệu người thiếu việc làm, chiếm 2,43% tổng số việc làm trong độ tuổi lao động, cao hơn quý 4/2014 (2,32%).

Hơn nữa, hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN đang ở mức thấp ở các góc độ:

Trước hết là chi phí nguồn nhân lực và khả năng chi trả của DN. Hiện nay, năng lực cạnh tranh quốc tế của các ngành nghề tuyển dụng lao động VN quy mô lớn như điện thoại di động, hạng mục xuất khẩu đứng đầu của VN, sợi, dệt may (hạng mục xuất khẩu thứ 2), giày dép (hạng mục xuất khẩu thứ 4), thủy sản (hạng mục thứ 6) đang bị giảm, vẫn gia công là chủ yếu, chưa chủ động được nguồn nguyên liệu phụ, mức độ tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu còn hạn chế, trong khi khách hàng đang cắt giảm giá hoặc đóng băng giá cả thì chi phí nguồn nhân lực liên tục tăng, chi phí nhân công tăng sẽ ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm mà thông thường giá bán sản phẩm đã được thương lượng trước thời điểm điều chỉnh mức lương tối thiểu đã dẫn tới sự khó khăn trong kinh doanh gia tăng.

Theo thống kê của VCCI, VN là nước có mức đóng BHXH, BHYT, BHTN, công đoàn phí do NSDLĐ đóng cao nhất so với các nước trong khu vực (trong đó Malaysia khoảng 13%, Thái Lan 5%, Philippin 10%, Indonesia 8%). Do đó khi tăng lương tối thiểu, các chi phí đặc biệt chi phí nguồn nhân lực cũng tăng theo từ đó ảnh hưởng đến khả năng chi trả của DN. Tại nhiều DN tiền đóng BHXH, BHYT, BHTN và phí Công đoàn năm 2015 đều tăng 35% so với năm 2014 dẫn đến việc nhiều DN sẽ không đủ khả năng thực hiện các chế độ chính sách cho người lao động.

Trong khi đó, từ 1/10/2011 lương tối thiểu vùng được quy định chung cho cả DN trong nước và DN FDI. Theo đó tất cả các DN khu vực nhà nước và ngoài nhà nước đều phải áp dụng lương tối thiểu vùng và chuyển đổi lương theo hệ thống thang bảng lương DN tự xây dựng và ban hành. Ví dụ đối với các DN trong ngành may mặc như May 10 với quy mô lao động khoảng 7000 lao động khi phải tự xây dựng thang, bảng lương mới và áp dụng mức lương tối thiểu vùng tăng từ 1/1/2015 thì các khoản chi phí đều tăng lên đặc biệt mức đóng BHXH năm 2015 tăng khoảng 30 tỷ đồng tương đương với tăng 47% so với mức đóng năm 2014. Đây thực sự là cú sốc đối với DN.

Ngoài ra, theo mức lương cơ sở 2015 thì mức lương cơ sở cho cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang được thực hiện từ giữa năm 2015 là 1,150 triệu đồng/tháng, mới chỉ đạt 44,2% so với mức lương tối thiểu bình quân của 4 vùng của khu vực DN (2,6 triệu đồng/tháng). Theo lộ trình cải cách tiền lương, Chính phủ dự kiến điều chỉnh mức lương cơ sở từ năm 2015 đến 2020 tăng bình quân từ 7%-8%/năm. Tuy nhiên, do khả năng ngân sách nhà nước năm 2015 không bố trí đủ nguồn thực hiện phương án nêu trên, Chính phủ đã điều chỉnh tiền lương và trợ cấp từ ngân sách nhà nước tăng thêm 8% từ ngày 1/1/2015 đối với người hưởng lương hưu, trợ cấp ưu đãi người có công và người có hệ số lương từ 2,34 trở xuống.

Trong khi đó, theo báo cáo của Viện Năng suất VN, năng suất lao động của toàn xã hội năm 2014 ước đạt 74,3 triệu đồng trên một lao động. Nếu tính theo giá so sánh năm 2010, năng suất lao động xã hội năm 2014 đạt 50,84 triệu đồng trên một lao động. Số liệu cho thấy, từ năm 2005 đến nay, năng suất lao động hàng năm đều tăng với tỷ lệ bình quân khoảng 3% một năm. Tuy nhiên so với các nước trong khu vực thì năng suất lao động của Việt Nam vẫn thấp hơn các nước.

Cơ sở khoa học để đảm bảo sức bền DN

Theo VCCI, đây là mức tối đa để DN có thể đảm bảo tồn tại, chiếm lĩnh thị trường và phát triển bền vững vì những lý do sau:

Thứ nhất, hiện nay thực trạng các DN vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn. DN lớn chỉ chiếm chưa đầy 2%, còn lại là DN nhỏ và siêu nhỏ và gần 70% DN kinh doanh không có lãi. Trong 7 tháng đầu năm 2015 đã có 37,829 DN ngừng hoạt động và giải thể, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm ngoài trong đó tỷ lệ DN nhỏ và vừa chiếm 97%. Tỷ lệ thất nghiệp tăng thêm và tỷ lệ người có việc làm giảm xuống.

Thứ hai, để có thể tăng lương và cải thiện đời sống cho người lao động thì yếu tố quyết định dựa vào việc tăng năng suất lao động và chất lượng công việc như quy định tại mục 2 điều 90 của Bộ Luật lao động “tiền lương trả cho người lao động căn cứ vào năng suất lao động và chất lượng công việc”. Việc nâng cao năng suất phải được cụ thể hóa thông qua việc nâng cao tay nghề, ý thức và tác phong công nghiệp của người lao động, cải tiến máy móc thiết bị công nghệ và khả năng tận dụng các cơ hội kinh doanh khi tham gia các hiệp định thương mại. Hiện nay năng suất lao động của các DN Việt Nam còn thấp hơn so với các nước trong khu vực vì vậy trong bối cảnh 70% DN làm ăn không có lãi thì khả năng đầu tư của DN vào việc đổi mới thiết bị công nghệ nhằm tăng năng suất lao động sẽ bị hạn chế. Hơn nữa việc tận dụng một số cơ hội khi hội nhập cũng cần phải có thời gian.

Theo báo cáo của Viện Năng suất VN, năng suất lao động của toàn xã hội năm 2014 ước đạt 74,3 triệu đồng trên một lao động.
Thứ ba, với mức tăng 10% như đã nêu ở trên thì thực tế NLĐ ngoài mức lương tăng thêm 10% còn được hưởng các chế độ an sinh xã hội cao hơn như chế độ nghỉ phép năm, thai sản, ốm đau, tiền làm thêm giờ… trong khi từ 1/1/2016 NSDLĐ phải đóng các khoản chi phí cho người lao động tăng thêm 35% – 40% so với năm 2015 vì từ 1/1/2016 mức lương làm căn cứ đóng các chế độ bảo hiểm và kinh phí công đoàn cho người lao động sẽ bao gồm tiền lương và các khoản phụ cấp. Ngoài ra, năm 2016, DN cũng sẽ phải đóng thêm các chi phí liên quan tới lao động nữ, chính sách về an toàn vệ sinh lao động…Tất cả những chi phí này DN sẽ phải gánh chịu do đó với mức tăng lương tối thiểu vùng thêm 10% như đề xuất của Giới sử dụng lao động thì thực tế NSDLĐ đã phải trả lương và đóng các khoản bảo hiểm, kinh phí công đoàn cho người lao động tăng lên từ 17-18%. Đây thực sự là cú sốc lớn đối với DN, nếu không đưa ra mức điều chỉnh hợp lý khả năng số DN ngừng hoạt động và phá sản sẽ tiếp tục gia tăng.

Cần xây dựng lộ trình cụ thể cho việc tăng lương và căn cứ vào sự phát triển kinh tế và yếu tố thu hút đầu tư nước ngoài, năng lực cạnh tranh của quốc gia, của cộng đồng DN và cũng cần tính đến những những hệ lụy xấu có thể xảy ra.

Ông Mai Đức Chính – Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐ VN, Phó Chủ tịch Hội đồng tiền lương quốc gia:Tăng 16% không ảnh hưởng đến SXKD

Là cơ quan đại diện cho người lao động chúng tôi vẫn giữ vững lập trường quan điểm là muốn tăng 16%, tức tăng từ 350.000 đồng đến 550.000 đồng (tương ứng với vùng 4 và vùng 1). Theo lộ trình tăng lương như vậy, đến năm 2018 mới đạt được 100% mức sống tối thiểu của người lao động. Trong khi đó, thực tế cho thấy tăng trưởng kinh tế khá (dự báo 6,5%, chỉ số giá tiêu dùng tăng 5%). Tăng lương tối thiểu vùng năm 2016 ít nhất phải bằng hoặc cao hơn năm 2015 thì mới hợp lý. Qua khảo sát của Tổng Liên đoàn Lao độngViệt Nam tại một số DN cho thấy, các DN (nhất là các DN FDI có hạch toán từ Cty mẹ ở nước ngoài) đều cho rằng việc tăng mức lương tối thiểu năm 2015 không ảnh hưởng nhiều đến SXKD.

Đúng là thực tế, cả hai phía đều đưa ra những lý do riêng để kiên định bảo vệ phương án của mình. Phía chủ sử dụng lao động muốn tăng lương ít, còn người lao động cần lương tăng cao hơn vì hiện lương quá thấp, không bảo đảm mức sống tối thiểu. Bên cạnh đó, một vấn đề khác nan giải không kém là lộ trình thực hiện lương tối thiểu dần bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động theo nghị quyết của Chính phủ. Do vậy, đến 2017 phải hoàn thành lộ trình này, bảo đảm lương tối thiểu đáp ứng được đời sống tối thiểu của người lao động, phù hợp với Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) có hiệu lực từ 2018.

René Robert – Quyền Giám đốc Văn phòng ILO tại Việt Nam:
Sự “khác biệt” là không lạ

Tổ chức công đoàn và các tổ chức người sử dụng lao động thường có những đề xuất điều chỉnh tiền lương tối thiểu rất khác nhau do mỗi bên đều đang đại diện lợi ích cho các thành viên của mình. Sự khác biệt này là phổ biến tại các quốc gia khác trên thế giới.

Theo quan sát của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), năm nay mức độ chênh lệch trong đề xuất mức tăng tiền lương tối thiểu giữa công đoàn và các tổ chức đại diện người sử dụng lao động đã giảm so với những năm trước, cho thấy rằng hai bên đã ghi nhận quan điểm và lợi ích của phía bên kia. Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Tiền lương Quốc gia (Hội đồng TLQG) vào năm 2013 khi Hội đồng mới bắt đầu thành lập, Tổng Liên Lao động Việt Nam (Tổng LĐLĐVN) đề xuất tăng lương tối thiểu bình quân 29,5% cho 4 vùng trong khi Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đề xuất mức tăng tối đa là 10%. Tuy nhiên vào năm 2014, mức tăng mà Tổng LĐLĐ VN đề xuất đã giảm xuống bình quân là 22,9% cho 4 vùng và VCCI đề xuất tăng lương tối thiểu từ 10-12%. ILO không có vai trò khuyến nghị mức tăng tiền lương tối thiểu cụ thể tại Việt Nam. Tuy nhiên ILO hỗ trợ Hội đồng TLQG xây dựng khuyến nghị trình Chính phủ về mức lương tối thiểu vùng. ILO cho rằng việc điều chỉnh tiền lương tối thiểu nên được thực hiện thường xuyên và căn cứ trên cả các yếu tố xã hội và kinh tế, ví dụ nhu cầu của người lao động và gia đình họ, chi phí sinh hoạt, khả năng chi trả của DN, mức năng suất lao động và mong muốn duy trì việc làm. Làm thế nào để đạt được sự cân bằng hợp lý giữa hai yếu tố xã hội và kinh tế là một thách thức. Thương lượng năm nay của Hội đồng đã có sự khởi đầu thuận lợi khi cả tổ chức công đoàn và các tổ chức người sử dụng lao động đều thấy cần phải tăng lương tối thiểu. ILO cũng ghi nhận rằng Hội đồng đang xây dựng một lộ trình để tiền lương tối thiểu đáp ứng nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, điều này sẽ làm tăng tiền lương tối thiểu trong ngắn hạn.

ILO khuyến nghị Hội đồng TLQG nên xây dựng sự đồng thuận giữa tổ chức công đoàn và các tổ chức người sử dụng lao động và tiến hành thêm các phiên họp thương lượng để các bên có đủ thời gian dung hòa lợi ích khác biệt trên cơ sở số liệu khoa học và lập luận thuyết phục.

Hoàng Quang Phòng

Tags :

Bài viết đã chặn phản hồi!

Tin khác đã đăng