Công nghệ số đang len lỏi vào từng ngõ ngách của đời sống hàng ngày và trong công việc kinh doanh, nó đang tạo ra những giá trị mới mà các doanh nghiệp không thể bỏ qua. 

p/Tại Việt Nam, xu thế “số hóa” đã xuất hiện ở hầu hết mọi lĩnh vực, từ thương mại, thanh toán cho đến giao thông, giáo dục, y tế...

Tại Việt Nam, xu thế “số hóa” đã xuất hiện ở hầu hết mọi lĩnh vực, từ thương mại, thanh toán cho đến giao thông, giáo dục, y tế...

Từ việc đăng ký kinh doanh, sử dụng hóa đơn điện tử cho đến bán lẻ trực tuyến; Từ môi giới việc làm, kinh doanh vận tải đến bất động sản hay ngân hàng... công nghệ số đang tạo ra những mô hình kinh doanh phi truyền thống.

Sự bùng nổ của nền kinh tế số

Theo một nghĩa hẹp thì nền kinh tế số (hay còn gọi là nền kinh tế Internet) là một nền kinh tế dựa trên các công nghệ kỹ thuật số. Lĩnh vực công nghệ kỹ thuật số phát triển đã mở đường cho sự đổi mới và phát triển trên toàn cầu.

Theo số liệu thống kê của Tạp chí Forbes, nền kinh tế số toàn cầu đang có tốc độ phát triển nhanh chóng với giá trị vào khoảng 3 nghìn tỷ USD, chiếm tỷ trọng 3,8% nền kinh tế toàn cầu vào năm 2016. Sự phát triển kinh tế số còn thể hiện ở việc có khoảng 200 thành phố trên toàn thế giới dự kiến xây dựng thành phố thông minh.

Dự báo đến năm 2020, tổng thị trường thành phố thông minh toàn cầu ước đạt 1,5 nghìn tỷ USD, chiếm 38% tỷ trọng của kinh tế số toàn cầu, tập trung chính ở các lĩnh vực chính phủ điện tử, năng lượng thông minh và y tế.

Công nghệ số cũng được xem là một trong những ưu tiên hàng đầu của Hiệp hội các quốc gia ASEAN, trong đó có Việt Nam, để giúp Hiệp hội trở thành một trong năm nền kinh tế số hóa trên thế giới trước năm 2025.

Theo báo cáo của Google và Temasek, nền kinh tế số của khu vực ASEAN đã có những đột phá trong những năm gần đây và đặc biệt là trong năm 2017. Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế số khu vực ASEAN năm 2017 đã vượt kì vọng với tỷ lệ tăng trưởng hàng năm đạt 27%/năm và đạt mốc 50 tỉ USD, chiếm khoảng 2% GDP của khu vực (dự kiến sẽ đạt 6% GDP vào năm 2025).

Đóng góp vào sự tăng trưởng này là các ngành như du lịch trực tuyến, thương mại điện tử, phương tiện truyền thông và giải trí trực tuyến, đặt xe trực tuyến...

  Theo Vietnamworks, dự báo đến cuối năm 2018, ngành công nghệ thông tin Việt Nam sẽ thiếu hụt khoảng 70.000 nhân sự và đến năm 2020 con số này sẽ là 500.000 nhân sự. 

Một số các quốc gia trong ASEAN đang có những thay đổi để theo đuổi chiến lược phát triển nền kinh tế số hóa, chẳng hạn như Thái Lan tiến hành thành lập Bộ Xã hội và Kinh tế Kỹ thuật số thay thế Bộ Công nghệ thông tin và truyền thông với chức năng lập kế hoạch, xúc tiến, phát triển và thực hiện các hoạt động liên quan đến một nền kinh tế kỹ thuật số và xã hội; Malaysia chi khoảng 36 triệu USD nhằm đẩy nhanh kế hoạch xây dựng nền kinh tế số, mà cụ thể là phát triển một hệ sinh thái thương mại điện tử, ngoài ra Malaysia còn thành lập các trung tâm kỹ thuật số dành cho cộng đồng khởi nghiệp, thúc đẩy phong trào nhà sáng chế kỹ thuật số, với các dự án trị giá 100 tỷ USD dự kiến sẽ được triển khai trong 10 năm tới…

Ở Việt Nam, với tổng dân số hơn 90 triệu người, với hơn 58 triệu người dùng internet, hơn 125 triệu thuê bao di động, hơn 3.000 doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, nhiều doanh nghiệp thành công trong các ngành CNTT, phần mềm, ứng dụng công nghệ số (như FPT, DTT, Viettel...) Việt Nam đang được đánh giá là một trong những quốc gia có tiềm năng lớn để phát triển nền kinh tế số.

Tại Việt Nam, xu thế “số hóa” đã xuất hiện ở hầu hết mọi lĩnh vực, từ thương mại, thanh toán cho đến giao thông, giáo dục, y tế... Nhiều doanh nghiệp Việt đã bắt đầu tham gia vào thương mại điện tử (Vuivui.com, Tiki.vn,...), các nền tảng thanh toán trung gian bằng công nghệ QR Code, ví (123Pay và ZaloPay của ZION, Momo, Webmoney, Payoo...), mạng xã hội (Zalo), thiết bị IoT (máy bán nước, máy bán bánh pizza tự động tích hợp giải pháp thanh toán điện tử cho máy bán hàng VPOS), thanh toán trực tuyến của các ngân hàng...

Tỷ trọng của thương mại điện tử trong tổng số doanh số thị trường bán lẻ của Việt Nam chiếm 3,6%. Đây là con số khiêm tốn so với mức trung bình của khu vực Châu Á Thái Bình Dương (14,5%).

Cơ hội và thách thức của doanh nghiệp

Khi để cập đến cơ hội và thách thức của doanh nghiệp, cần phải đề cập đến nội hàm lớn hơn của nền kinh tế số đã được nhắc đến ngay từ lúc đầu, đó là nền kinh tế quốc gia đang được dẫn dắt bởi công nghệ số.

Nền kinh tế số với những mô hình, phương thức kinh doanh mới đã và đang tạo ra những cơ hội lớn để phát triển kinh doanh cho các doanh nghiệp ở các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Phát triển công nghệ số sẽ giúp DNNVV tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu thuận tiện với chi phí thấp.

Các công nghệ mới đột phá sẽ cho phép các chuỗi cung ứng được kết nối tốt hơn và phân phối hiệu quả hơn, đồng thời giảm thiểu chi phí hậu cần và giao dịch. Thông qua trao đổi trực tuyến, sẽ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường, giảm chi phí kinh doanh, quảng bá, thực hiện tốt các dịch vụ sau bán hàng… người tiêu dùng thì được mua sắm toàn cầu.

Nếu tận dụng được công nghệ, doanh nghiệp Việt Nam có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh, mở rộng thị trường và thị phần, thậm chí lấn sân vào những thị trường mới do chính doanh nghiệp Việt Nam tạo nên.

Các sản phẩm công nghệ sẽ tạo ra nhiều giá trị, giảm chi phí sản xuất, lao động nhân công. Không chỉ các công ty công nghệ mà tất cả doanh nghiệp tại Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ một nền kinh tế được số hóa. Doanh nghiệp Việt Nam cũng được đánh giá là có đầy đủ những công cụ để có thể cạnh tranh trong khối ASEAN tích hợp kỹ thuật số và có thể gặt hái thêm nhiều lợi ích tiềm tàng nữa.

Bên cạnh những cơ hội, thì nền kinh tế số, với những mô hình, phương thức kinh doanh mới cũng đang tạo ra những thách thức không nhỏ cho doanh nghiệp Việt Nam:

Thứ nhất, thách thức về thị trường. Nhiều doanh nghiệp nước ngoài đã chiếm lĩnh được thị trường, có mặt trong rất nhiều ngành nghề của nền kinh tế. Tầm ảnh hưởng, sức mạnh và việc ứng dụng công nghệ số hóa của các doanh nghiệp số như Facebook, Google, Microsoft, trong xã hội hiện nay là rất lớn. Nếu không thể nắm bắt được và hòa mình vào xu thế thời đại này, doanh nghiệp Việt Nam có khả năng thua cuộc trên chính sân nhà; hay lùi dần xuống những bậc thấp hơn, ít lợi nhuận hơn của các chuỗi giá trị, cung ứng toàn cầu.

Thứ hai, vấn đề thiếu hụt nguồn nhân lực công nghệ thông tin đang là một trong những thách thức lớn đối với lĩnh vực kinh tế số của Việt Nam. Cụ thể, theo Báo cáo của Vietnamworks, nhu cầu nhân sự ngành công nghệ thông tin Việt Nam đang ở mức cao nhất trong lịch sử với gần 15.000 việc làm được tuyển dụng trong năm 2016. Tuy nhiên, theo Vietnamworks, dự báo đến cuối năm 2018, ngành này sẽ thiếu hụt khoảng 70.000 nhân sự và đến năm 2020 con số này sẽ là 500.000 nhân sự.

Thứ ba, môi trường pháp lý phù hợp cho nền kinh tế số chưa hoàn. Đây là một thành tố quan trọng, nếu có một khung pháp lý phù hợp, nó sẽ giúp thúc đẩy quá trình chuyển đổi giữa nền kinh tế và nền kinh tế số diễn ra một cách mau chóng và mạnh mẽ hơn ở Việt Nam. Trong đó có luật văn bản điện tử, luật giao dịch điện tử và luật chữ ký số để hỗ trợ giao dịch điện tử. Cần tiến tới việc thay đổi nhận thức để công nhận văn bản điện tử cũng có giá trị như trên giấy tờ.

Thứ tư, thách thức về an ninh, bảo mật. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật, trình độ công nghệ còn nhiều bất cập mà hệ quả trực tiếp là kinh tế số dựa trên nền tảng Internet vẫn chứa đựng nhiều nguy cơ về bảo mật, an toàn thông tin, tính riêng tư của dữ liệu. Khi kỹ thuật số trở nên phổ biến, doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc làm thế nào để ngăn chặn và giải quyết vấn đề tấn công qua mạng.

Thứ năm, thách thức trong triển khai Thương mại điện tử (TMĐT). Các chi phí, dịch vụ kho vận cao và kém so với nhiều nước trong khu vực đã hạn chế sự phát triển của TMĐT ở Việt Nam. Bên cạnh đó, là việc xây dựng được lòng tin của người tiêu dùng vào mua sắm trực tuyến.

Thứ sáu, khả năng thích ứng với nền kinh tế số của doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế, đặc biệt là DNNVV. Khu vực doanh nghiệp này đang gặp khó khi muốn mở rộng kinh doanh thông qua nền kinh tế kỹ thuật số do những phiền toái về truy cập Internet và truyền dẫn băng thông rộng, tính an toàn và bảo mật thông tin cá nhân cũng như các kiến thức cơ bản về phát triển, sự hiện diện trực tuyến và chi phí đắt đỏ của các thiết bị công nghệ thông tin.