Là người có kinh nghiệm đầu tư vào các startup ở Việt Nam trong suốt 10 năm qua, ông Nguyễn Mạnh Dũng, Giám đốc điều hành của quỹ đầu tư CyberAgent Ventures Southeast Asia tại Việt Nam và Thái Lan, chia sẻ rằng để một nhà đầu tư nước ngoài mang tiền đầu tư vào các DN startup tại Việt Nam là không hề đơn giản.

p/Sau 7 tháng hoạt động, mô hình không gian làm việc chung Toong tuyên bố nhận được khoản đầu tư trị giá hơn 1 triệu USD.Ảnh: Toong

Sau 7 tháng hoạt động, mô hình không gian làm việc chung Toong tuyên bố nhận được khoản đầu tư trị giá hơn 1 triệu USD.Ảnh: Toong

Mang tiền vào cũng khó

Bỏ qua những yếu tố về tiềm năng phát triển của DN đó, hay kỹ năng lãnh đạo của người sáng lập, những thủ tục hành chính liên quan tới vấn đề mua bán cổ phần và chuyển tiền từ nước ngoài vào được coi là những rào cản khiến không ít nhà đầu tư nản lòng.

Thủ tục đầu tư phức tạp được coi là một nguyên nhân chính vì sao các startup tại Việt Nam không thể kêu gọi được những khoản đầu tư lên tới hàng trăm triệu USD như tại Thái Lan hay Indonesia. Nổi bật nhất là Grab gần đây đã kêu gọi được tới 3 tỷ USD tiền đầu tư từ Toyota, hay một trang web chuyên về đặt vé máy bay có tên là Traveloka của Indonesia cuối tháng 7 vừa qua cũng đã nhận được 350 triệu USD tiền đầu tư từ Expedia (Mỹ).

“Các nước như Indonesia, Thái Lan họ có chính sách hỗ trợ tình hình gọi vốn cho startup tốt hơn ở Việt Nam. Việt Nam có rủi ro khi họ đầu tư, đó là vấn đề giải ngân cho khoản đầu tư rất chi là lâu. Có nghĩa là nhà đầu tư kiên nhẫn nhất họ mới có thể làm được ở Việt Nam, còn phần lớn họ sẽ không làm,” ông Dũng nói.

Với kinh nghiệm của mình, ông Dũng cho rằng thời gian giải ngân cho một khoản đầu tư ở Việt Nam kéo dài từ 8 tháng đến 1 năm, trong khi đó ở Singapore chỉ là 1 tuần, còn ở Thái Lan là 1 tháng. Nguyên nhân vì một bộ hồ sơ giải ngân ở Việt Nam rất phức tạp, nhiều thông tin, và phải yêu cầu chữ ký “tươi” thay vì dùng chữ ký điện tử như ở các nước khác. Bên cạnh đó, giấy phép con ở Việt Nam còn rất nhiều, một lĩnh vực, ngành nghề có thể nằm trong sự quản lý của vài bộ, khiến cho nhà đầu tư cảm thấy lo ngại.

“Đối với các DN startup trong lĩnh vực công nghệ, chỉ cần 6 tháng thôi là các nhà đầu tư đã biết DN đó sống hay chết, vì công nghệ thay đổi liên tục”, ông Dũng nói và nhấn mạnh giải ngân chậm sẽ khiến cho cơ hội đầu tư qua đi, vì thế các nhà đầu tư sẽ tìm tới những thị trường có thủ tục dễ dàng hơn để tận dụng cơ hội tốt hơn.
Ông Đỗ Hoài Nam, một trong những nhà đầu tư có tiếng vào các DN startup ở Việt Nam, đồng thời cũng là đồng sáng lập viên của chuỗi Up Co-working space, cũng cho rằng các thủ tục đầu tư tại Việt Nam đang khiến các nhà đầu tư ngoại quay lưng lại với các DN startup và hướng sang các thị trường khác trong khu vực.

Khó huy động vốn đầu tư cũng là lý do khiến ông Steven Nguyễn, một doanh nhân trẻ người Việt đã cùng với các bạn của mình sang tận Singapore để thành lập một startup mang tên Luxstay chuyên cung cấp dịch vụ chia sẻ chỗ ở trên mạng internet và sau đó đưa trang web này tập trung hoạt động vào thị trường Việt Nam. Chỉ sau 6 tháng hoạt động, Luxstay đã huy động thành công khoản đầu tư đầu tiên từ quỹ đầu tư Genesia Ventures của Nhật Bản. Ông Steven Nguyễn, CEO của Luxstay, cho rằng nếu startup này thành lập ở Việt, việc huy động vốn sẽ không nhanh như vậy và quỹ đầu tư đó có thể quay lưng do cơ hội đầu tư sẽ trôi đi.

Thoát ra còn khó hơn

Hầu hết các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào các DN startup, điều họ quan tâm nhất là thoát ra như thế nào. “Thời gian đầu tư có thể là 3 năm, 5 năm hay 10 năm nhưng tới lúc nào đó họ vẫn sẽ phải thoát ra, nếu không thoát ra được coi như là thất bại,” ông Dũng nói.

Nhưng ở Việt Nam, tìm lối thoát cho khoản đầu tư không phải là dễ. Đây được coi là rủi ro lớn cản trở các nhà đầu tư nước ngoài rót những khoản vốn lớn vào các DN startup trong nước. “Hiện nay ở Việt Nam không có lối thoát cho nhà đầu tư. Càng đầu tư lớn, càng rủi ro lớn. Rủi ro lớn là không có lối ra thì đương nhiên nhà đầu tư không muốn đầu tư”, ông Dũng chia sẻ.

Theo ông Đỗ Hoài Nam, lựa chọn các phương án thoái vốn khỏi startup ở Việt Nam không có nhiều, do hệ thống mua bán sáp nhập chưa hoàn thiện. Việc tìm kiếm một nhà đầu tư mua lại cổ phần ở các DN startup tại thị trường này không đơn giản, vì các DN lớn trong nước thường ít chú ý tới các startup. Đặc biệt là các startup trong lĩnh vực công nghệ, theo góc nhìn của ông Dũng, các “đại gia” ở Việt Nam thường đã lớn tuổi và không quan tâm tới lĩnh vực này nhiều.

Trong khi đó, lựa chọn phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) cũng là một phương án khó. Thậm chí, nhiều DN lâu đời cũng chỉ vừa mới dám thực hiện. Cách còn lại là chọn bán lại cho nước ngoài hoặc các nhà đầu tư khác. Đến đây thì lại quay lại vấn đề thủ tục đầu tư đưa vốn vào như ban đầu. Như vậy, nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các DN Việt Nam vẫn được coi là hành động dũng cảm.