Số lượng doanh nghiệp chờ giải thể trong 8 tháng qua tăng mạnh

Cách đây không lâu, trao đổi với chúng tôi, bà Nguyễn Thị Giúp, chủ cửa hàng vật tư nông nghiệp tại huyện Tân Phước(Tiền Giang) chia sẻ rằng: Dù nhận được rất nhiều sự tư vấn hỗ trợ giúp đỡ của chính quyền địa phương trong vấn đề chuyển đổi mô hình hoạt động từ hộ kinh doanh sang doanh nghiệp nhưng tạm thời tôi sẽ vẫn giữ nguyên mô hình hiện tại.

Bởi, thứ nhất nếu chuyển sang mô hình doanh nghiệp, chi phí hoạt động sẽ lớn hơn, thủ tục hành chính phức tạp hơn. Thứ hai, chúng tôi chưa chuẩn bị được nhân lực, chưa cảm thấy sẵn sàng. Nhưng quan trọng hơn là dự cảm về môi trường kinh doanh ngày càng khó khăn, cạnh tranh gay gắt và đà tăng trưởng đang bị chững lại. 

Bất thường…

Những e ngại, lo lắng của bà Giúp là có cơ sở. Theo số liệu của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), 8 tháng qua, có tới 72.340 doanh nghiệp dừng hoạt động, giải thể, phá sản..., tương đương khoảng 82,76% tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới. Con số này cũng tương đương với số doanh nghiệp dừng hoạt động và giải thể trong cả năm 2017( năm 2017, số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động là 60.553 doanh nghiệp, số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 12.113 doanh nghiệp).

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số lượng doanh nghiệp chờ giải thể trong 8 tháng qua tăng mạnh là vì từ tháng 4 đến nay, các địa phương đang tích cực chuẩn hóa, làm sạch dữ liệu về doanh nghiệp. Trong quá trình rà soát này, những doanh nghiệp đã thành lập từ lâu nhưng không còn hoạt động được chuyển sang tình trạng chờ giải thể.

Đã có những chấn an rằng, tỷ lệ doanh nghiệp dừng hoạt động, phá sản như vậy là quy luật bình thường. Báo cáo Business Employment Dynamics (khảo sát năm 1994 - 2015) do Cục Thống kê Lao động Hoa Kỳ cung cấp cho biết: Chỉ gần 50% trong số công ty khởi nghiệp trụ vững cho đến năm thứ 5. Thậm chí, một thống kê khác chỉ ra rằng tỷ lệ doanh nghiệp “sống sót” sau 4 năm hoạt động tại 26 nước EU chỉ có 46%.

Nhưng việc số lượng doanh nghiệp dừng hoạt động, giải thể, phá sản của Việt Nam tăng mạnh trong thời gian vừa qua là đáng báo động.

Doanh nghiệp là một sản phẩm của kinh tế thị trường. Có thể thấy, việc sàng lọc, đào thải là một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường. Một mặt theo quy luật đào thải này, những doanh nghiệp yếu kém, doanh nghiệp nhỏ có vốn mỏng, trình độ quản lý thấp; công nghệ lạc hậu; kỹ năng, tay nghề của người lao động yếu không đủ sức cạnh tranh sẽ bị loại bỏ để thay vào đó là những doanh nghiệp mới với ý tưởng kinh doanh mới có chất lượng cao hơn.

Ở góc độ này, giải thể, phá sản, ngừng hoạt động của doanh nghiệp còn giúp cho nền kinh tế tái cơ cấu liên tục, làm trong sạch môi trường kinh doanh và là cơ sở cho sự phát triển bền vững. Một mặt, nó phản ánh môi trường kinh doanh đối với doanh nghiệp vẫn còn vô vàn trở ngại. Đặc biệt là về thuế, phí, chi phí không chính thức vẫn tăng cao khiến doanh nghiệp ngày càng gặp khó khăn và buộc phải rút khỏi thị trường.

Chỉ tiêu cứng

Nghị quyết số 35 ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 đặt mục tiêu rất cụ thể, đến năm 2020, xây dựng doanh nghiệp Việt Nam có năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững, cả nước có ít nhất 1 triệu doanh nghiệp hoạt động, trong đó có các doanh nghiệp có quy mô lớn, nguồn lực mạnh. Hàng năm, có Khoảng 30 - 35% doanh nghiệp Việt Nam có hoạt động đổi mới sáng tạo.

Trên thực tế Chính phủ, các Bộ ngành, địa phương đã có rất nhiều nỗ lực trong việc thúc đẩy, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, tạo điều kiện cho doanh nghiệp.

Cụ thể, đến tháng 6 năm nay, 11 bộ đã đưa ra rất nhiều phương án dự kiến cắt giảm, đơn giản hóa đều trên 50% tổng số điều kiện kinh doanh – phù hợp với mục tiêu của Chính phủ đặt ra từ đầu năm. "Chiến dịch" cắt giảm điều kiện kinh doanh đang tiếp tục được Chính phủ, Thủ tướng chỉ đạo quyết liệt, dự kiến sẽ cắt giảm hơn 60% trong hơn 5.900 điều kiện kinh doanh hiện hành.

Nhiều địa phương đã tăng cường hoạt động đối thoại, gặp gỡ doanh nghiệp, tổ chức cà phê doanh nhân để kịp thời lắng nghe tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp.

Đáng chú ý là sau khi có nghị quyết 35, hầu hết các địa phương trong cả nước đều xây dựng chương trình hành động thực hiện. Và để đạt được mục tiêu 1 triệu doanh nghiệp như Nghị quyết đề ra, nhiều địa phương đã đặt chỉ tiêu cứng về số lượng doanh nghiệp thành lập mới trong một năm.

Chủ tịch một huyện miền núi phía Bắc đã từng chia sẻ rằng: Việc đặt ra chỉ tiêu cứng về số lượng doanh nghiệp thành lập mới và quy trách nhiệm cho người đứng đầu địa phương là không phù hợp. Bởi doanh nghiệp hình thành và phát triển theo quy luật kinh tế thị trường. Đối với các địa phương miền núi, duy trì được hoạt động của các doanh nghiệp đã khó chứ chưa nói đến thành lập mới. Nhưng để không bị khiển trách, phê bình vì không hoàn thành mục tiêu, có thể chống chế bằng nhiều cách như vận động chuyển đổi mô hình các hộ kinh doanh, thậm chí là thành lập doanh nghiệp “ma”. Nếu làm vậy, có thể đạt được mục tiêu về số lượng nhưng lợi bất cập hại, gây ra hệ luỵ sau này thậm chí là tạo ra những sai lệch trong cơ sở xây dựng chính sách phát triển doanh nghiệp.

Chia sẻ thật trên có thể bổ sung một trong những nguyên nhân quan trọng nữa khiến cho tỷ lệ doanh nghiệp dừng hoạt động, phá sản tăng mạnh trong thời gian vừa qua. Nói cách khác, bệnh thành tích, chạy theo các con số là một trong những tác nhân. Lưu ý rằng, tỷ lệ các doanh nghiệp mới thành lập phải dừng hoạt động hoặc giải thể trong 3 năm đầu hoạt động thường rất lớn. Bởi vậy những doanh nghiệp được thành lập mới không dựa trên nguyên quy luật kinh tế thị trường, chưa chuẩn bị  kỳ càng, chưa sẵn sang, hay vì bất kỳ lý do gì khác được sinh ra sẽ càng ít có cơ hội “sống sót”.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan từng cảnh báo rằng: Doanh nghiệp đăng ký mới thì chưa biết thế nào, nhưng những doanh nghiệp "chết" là chết thật, mà trong các nguyên nhân khiến doanh nghiệp "chết" thì nguyên nhân từ môi trường kinh doanh chiếm khoảng 50%.

Bởi vậy, phải coi doanh nghiệp dừng hoạt động, giải thể, phá sản  trong 8 tháng vừa qua là bất thường để có những phân tích, đánh giá và có các chính sách thúc đẩy, hỗ trợ và điều chỉnh phù hợp.