Dệt và may mặc tiếp tục là một trong những mặt hàng có đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu.

Dệt và may mặc tiếp tục là một trong những mặt hàng có đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu.

Cụ thể: các mặt hàng có đóng góp lớn vào mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu tháng 1/2018 tiếp tục là điện thoại các loại và linh kiện ước đạt 4,2 tỷ USD, tăng 80,7% so với cùng kỳ; hàng dệt và may mặc ước đạt 2,3 tỷ USD, tăng 7,6%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện ước đạt 2,2 tỷ USD, tăng 37,9% so với cùng kỳ; giày dép các loại ước đạt 1,3 tỷ USD, tăng 11,5%; máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng ước đạt 1,05 tỷ USD, tăng 18,2%.

Kim ngạch xuất khẩu tháng 1/2018 ước đạt 19 tỷ USD, tăng 33,1%  so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu của khu vực 100% vốn trong nước ước đạt 5,41 tỷ USD, tăng 31,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 13,6 tỷ USD, tăng 33,7% so với cùng kỳ năm 2017.

Về xuất khẩu các nhóm hàng, cụ thể với kim ngạch xuất khẩu nhóm nông, lâm, thuỷ sản ước đạt 2,12 tỷ USD, giảm 7,5% so với tháng 12/2017 và tăng 28,3% so với cùng kỳ năm 2017, chiếm 11,2% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong nhóm này, hầu hết các mặt hàng đều đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ 2017 như: thủy sản ước đạt 600 triệu USD, tăng 23,8%; rau quả ước đạt kim ngạch 320 triệu USD, tăng 36,4%; hạt điều ước đạt 286 triệu USD, tăng 75%; gạo ước đạt 214 triệu USD, tăng 49,6%; sắn và các sản phẩm từ sắn ước đạt 127 triệu USD, tăng 114,4%; chè ước đạt 17 triệu USD, tăng 25,2%.

Riêng cà phê giá xuất khẩu bình quân giảm 13,9% so với cùng kỳ nhưng sản lượng xuất khẩu ước tăng 25,1% nên kim ngạch tăng trưởng ở mức 7,7%, đạt 340 triệu USD.

Mặt hàng cao su và hạt tiêu ước đạt mức tăng trưởng cao về sản lượng so với cùng kỳ (lần lượt tăng 60,9% và 43,5%) nhưng kim ngạch xuất khẩu sụt giảm lần lượt là 5,7% và 17,9% và ước đạt 169 triệu USD và 51 triệu USD do giá xuất khẩu bình quân giảm sâu so với cùng kỳ (giảm 42,5% đối với hạt tiêu và 41,4% đối với cao su).

Kim ngạch xuất khẩu nhóm nhiên liệu và khoáng sản ước đạt gần 0,3 tỷ USD, tăng 6,8% so với cùng kỳ. Xuất khẩu các mặt hàng than đá; quặng và khoáng sản khác đều tăng do tăng mạnh về lượng xuất khẩu, tuy nhiên  giá xuất khẩu bình quân của các mặt hàng này giảm, riêng mặt hàng xăng dầu đạt tăng trưởng dương cả về sản lượng và trị giá.

Dầu thô là mặt hàng duy nhất trong nhóm có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ (giảm 13,0%) chủ yếu do lượng giảm 21,4%; giá xuất khẩu bình quân ước tăng nhẹ 0,6% so với cùng kỳ.

Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến ước đạt 15,62 tỷ USD, tăng 34,6% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng khoảng 82,2%.