PGS TS Nguyễn Chu Hồi, giảng viên Đại học Quốc gia Hà Nội, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam khẳng định: “Việc nhận diện một “Việt Nam biển” và vị trí quan trọng của nó đối với chiến lược phát triển đất nước chính là một cách nhìn mới và đầy đủ về “chân dung kinh tế” đất nước”.

Ông Hồi khẳng định: Đảng ta đã thừa nhận luận điểm của thời đại – “Thế kỷ XXI là thế kỷ của đại dương”. Đáng nói và đáng lo nhất là đến nay biển, đảo và vùng ven biển nước ta vẫn chủ yếu được quản lý theo cách tiếp cận mở kiểu “điền tư, ngư chung” và chủ yếu quản lý theo ngành. Điều này dẫn đến sự chồng chéo về quản lý giữa khoảng 15 bộ ngành về biển; chính sách và pháp luật về quản lý biển thiếu đồng bộ, chồng chéo, hiệu lực thi hành thấp.

- Ông có nói tới “điền tư, ngư chung”, ông có thể nói rõ hơn về cách thức quản lý này?

Biển Đông có điều đặc biệt là hiện diện một "cấu trúc nước sâu kiểu đại dương với độ sâu trung bình khoảng 2.500m, chiếm diện tích khoảng 60% tổng diện tích Biển Đông. Sự hiện diện của cấu trúc nước sâu này cho phép chúng ta nghĩ đến khả năng có băng cháy, bùn khoáng, năng lượng địa nhiệt và kết hạch đa kim... Riêng về triển vọng khoáng sản như vậy đã kích thích khát vọng của rất nhiều quốc gia. Một khi họ đã có tham vọng và lại có điều kiện, thì họ phải đi trước, hành động trước, từng bước giành giật, tìm cách độc chiếm.

Chưa hết, với vị trí "ngã ba đường" của Biển Đông, tài nguyên Biển Đông khiến cho khu vực này lâm vào cảnh tranh chấp kéo dài và nhiều bên. Cho nên, đòi hỏi phải được giải quyết theo cách tiếp cận đa phương, các nước phải có thiện chí, củng cố lòng tin và cùng nhau nhìn lại vấn đề một cách nghiêm túc.

- Ý của ông là Việt Nam cần thay đổi tư duy và cách làm về kinh tế biển?

Đối với biển ta phải có cái nhìn dài hơi. Suất đầu tư vào biển rất lớn, trong khi môi trường biển thì rất khắc nghiệt. Không thể ra biển với công nghệ "lẹt đẹt" được. Tiêu chí của thế giới là muốn thành cường quốc đại dương thì phải có công nghệ cao, hiện đại và bằng sức mạnh của công nghệ. Với công nghệ lạc hậu mà ra biển thì thế giới không ai thừa nhận, mà sự thực là anh chẳng thể khai thác được gì đáng kể từ biển. Anh chỉ khai thác được những cái nhìn thấy thôi. Trong khi thế giới họ đang khai thác những thứ không nhìn thấy được. Ví dụ, Mỹ làm giàu từ nghề cá biển giải trí, Hàn Quốc có máy lọc Lithium từ nước biển để làm chất bán dẫn. Lọc được chất này từ nước biển thì không biết đến đời thủa nào mới hết, có thể coi là một nguồn tài nguyên "vĩnh cửu".

Nói như thế để khẳng định rằng mình mơ ước là đúng, có nguyện vọng chinh phục biển là chính đáng. Nhưng nếu không thực sự hiểu biết bản chất của nó thì tư duy, cách nhìn, lựa chọn phương thức tiếp cận và phương pháp giải quyết vấn đề (đầu tư) đều sẽ vướng.

- Nghị quyết mới về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 từng bước đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, dựa vào biển và hướng ra biển. Vậy theo quan điểm của ông, chúng ta phải bắt đầu từ đâu?

Chúng ta cũng phải thống nhất quản lý nhà nước về biển và đảo; khai thác, sử dụng không gian biển, đảo hiệu quả, có chọn lọc, tiết kiệm tài nguyên; đội hình ra biển phải được hiện đại hóa, không thể dắt đội quân “thuyền thúng ra biển” mà ngộ nhận mình là quốc gia mạnh từ biển được!

Đơn cử, muốn có công nghiệp đánh bắt hải sản thực sự hiệu quả thì phương tiện, phương pháp đánh bắt cũng phải khác. Hệ thống quản lý, thông tin liên lạc cũng phải khác. Gọi mãi không biết nhau ở đâu giữa đại dương mênh mông ấy thì làm sao đón lõng, bắt được những đàn cá di cư đúng độ tuổi, đúng chất lượng!

- Nhưng ông không thể không thừa nhận nguồn lực của Việt Nam còn eo hẹp?

Nếu chỉ nhìn vào “hầu bao” của mình thì đó đương nhiên là khó nhưng chúng ta hoàn toàn có thể suy nghĩ để tận dụng lợi thế của “người đi sau”. Tự làm ra công nghệ thì rất lâu, rất tốn kém nhưng chúng ta có thể làm chủ được công nghệ thông qua hợp tác, hội nhập quốc tế thực sự và hiệu quả.

Việt Nam hiện đã là quốc gia hội nhập quốc tế, đáp ứng khá tốt yêu cầu với tư cách là thành viên WTO, thành viên của Liên hiệp quốc, thành viên của UNCLOS 1982, và nhiều thiết chế quốc tế liên quan đến biển khác nữa…

Đảm bảo độc lập, chủ quyền, các quyền và lợi ích của nước ta trên Biển Đông là yêu cầu tiên quyết nhưng như thế không có nghĩa là “đóng cửa biển”! Và tất nhiên không thể nói “mở” chung chung mà phải chỉ rõ trên quan điểm quản lý không gian biển là chỗ nào có thể làm gì, theo cơ chế nào.

Khi chính sách tạo ra được điểm hài hòa về lợi ích, chúng ta nhất định sẽ có những đối tác tốt, đối tác mạnh, giúp chúng ta làm giàu. Ta có cả một vùng biển rộng với vị trí chiến lược, nguồn nhân lực dồi dào, nhiều giá trị ngoại hạng quốc gia và toàn cầu,… Mà lợi ích trên Biển Đông thì không chỉ của các nước bên bờ biển Đông!

- Vậy theo ông, để “giàu mạnh từ biển”, Việt Nam cần gì?

Trong bối cảnh thế giới tiến ra biển và đại dương ở Thế kỷ 21 với các chiến lược biển quốc gia đầy kỳ vọng, và trong xu thế thế giới đang “lấy đại dương nuôi đất liền”, thì việc nhận diện đầy đủ một “Việt Nam biển” chính là một cách nhìn mới và đầy đủ về “chân dung kinh tế” đất nước. Biển là không gian sinh tồn của dân tộc Việt Nam và phải trở thành yếu tố trọng yếu, không thể thiếu trong chiến lược phát triển kinh tế quốc dân và trong việc lựa chọn con đường đi tới của dân tộc ta.

- Xin trân trọng cảm ơn ông!

Bạn đang đọc bài viết Nhận diện “Việt Nam biển” tại chuyên mục Đầu tư của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan@dddn.com.vn, hotline: (024) 3.5771239,