Kết thúc năm tài chính 2016, một trong những cái tên được chú ý nhiều nhất trong ngành ngân hàng là Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank). Vài năm trước, VPBank chỉ là một ngân hàng hạng trung, doanh thu và lợi nhuận còn thua xa những ngân hàng cổ phần khác như Techcombank hay MBBank.

Thế nhưng năm 2016, VPBank đã lần đầu tiên trở thành ngân hàng có doanh thu và lợi nhuận lớn nhất trong nhóm ngân hàng thương mại cổ phần. Báo cáo tài chính của ngân hàng này cho thấy, năm 2016 tổng thu nhập hoạt động là 16.864 tỷ đồng, lợi nhuận hợp nhất trước thuế đạt 4.900 tỷ đồng, trong đó của riêng ngân hàng đạt 3.400 tỷ đồng.

Sự dịch chuyển chiến lược

“Tại sao VPBank lại có doanh thu lớn? Vì VPBank tham gia vào các lĩnh vực rủi ro lớn. Điều này ban lãnh đạo biết và xác định từ nhiều năm nay”, ông Nguyễn Đức Vinh, Tổng giám đốc VPBank, đưa ra lời giải thích về kết quả kinh doanh của ngân hàng trước Đại hội đồng cổ đông tổ chức hồi đầu tháng trước.

Những lĩnh vực rủi ro lớn như ông Vinh nói ở đây là nhóm khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí là siêu nhỏ; khách hàng là các hộ tiểu thương và cho vay tiêu dùng với khách hàng cá nhân. Đây là những phân khúc khách hàng có năng lực tài chính thấp và đặc biệt là thường không có tài sản bảo đảm. Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu khách hàng trong những phân khúc này, các sản phẩm của VPBank thường là những sản phẩm cho vay tín chấp có độ rủi ro khá cao.

Mặc dù vậy những phân khúc này hiện chiếm tới 77% tổng dư nợ của VPBank, theo thông tin do ông Vinh công bố tại Đại hội đồng cổ đông. Trong khi đó, dư nợ cho vay các doanh nghiệp lớn vẫn duy trì, nhưng tăng trưởng không cao và đang dần trở thành thứ yếu trong chiến lược của ngân hàng này.

Thực tế, tập trung vào phân khúc bán lẻ, doanh nghiệp vừa và nhỏ và hộ kinh doanh cá thể hiện không phải là lối đi riêng của VPBank trong thời điểm hiện tại. Gần 10 năm trước, hầu hết các ngân hàng đều hướng tới cho vay các doanh nghiệp lớn, tăng dư nợ tín dụng ở những dự án bất động sản, các dự án giao thông và dự án đầu tư quy mô lớn. Khách hàng cá nhân và nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng với hộ kinh doanh cá thể được coi là những phân khúc đầy rủi ro cần phải tránh xa. Nhưng vào thời điểm này, rất nhiều ngân hàng như VPBank đã thay đổi cách nhìn và dường như tất cả đều sẵn sàng chấp nhận rủi ro.

Khi trao đổi với báo chí gần đây, ông Lưu Trung Thái, Tổng giám đốc Ngân hàng cổ phần Quân đội (MB), cũng cho biết, MB đang dịch chuyển mạnh sang mảng bán lẻ, bao gồm khách hàng cá nhân và nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ. “Quy mô của chúng tôi sẽ tăng để hai nhóm khách hàng này chiếm khoảng 70% doanh thu chung của ngân hàng”, ông Thái nói, ám chỉ rằng những khách hàng doanh nghiệp lớn sẽ không còn đóng góp quan trọng vào doanh thu.

Để đạt được mục tiêu đó, MB đã ký hợp đồng liên doanh với hai đối tác Nhật Bản nhằm phát triển công ty tài chính tiêu dùng MCredit. Với MCredit, MB sẽ có thể cung cấp các khoản tín dụng cho những khách hàng cá nhân không đủ điều kiện vay tại ngân hàng.
Các ngân hàng khác như VIB, ACB, Techcombank, HDBank và SHB cũng không chịu chậm chân để giành được những miếng bánh lớn hơn trong phân khúc khách hàng cá nhân và SME này.

Ông Đào Văn Hùng, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia nhận định rằng, thời gian tới, số lượng công ty tài chính tiêu dùng sẽ tăng mạnh và là mảnh đất màu mỡ để các ngân hàng khai thác.

Rủi ro lớn, lợi nhuận lớn

Rõ ràng, phân khúc khách hàng cá nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ kinh doanh cá thể đang là một đấu trường cạnh tranh mới của các ngân hàng trong nước. Nhưng điều gì đang khiến các ngân hàng cùng đổ xô vào phân khúc được cho là có rủi ro cao này?

Câu trả lời nằm ở lợi nhuận. Đúng như lời ông Nguyễn Đức Vinh - Tổng giám đốc VPBank nói, ngân hàng có doanh thu và lợi nhuận lớn vì tham gia vào phân khúc có rủi ro cao. Trong cơ cấu doanh thu và lợi nhuận của VPBank, sự đóng góp của Công ty Tài chính FE Credit chiếm khoảng 50%. Và ai cũng hiểu rằng, mức lãi vay dành cho khách hàng cá nhân của các công ty tài chính không thấp chút nào. Doanh thu của khối khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ của VPBank trong năm 2016 cũng đã tăng 40%, và mức đóng góp vào lợi nhuận của toàn ngân hàng tăng gấp năm lần so với năm 2015.

Tất cả các ngân hàng đều hiểu rằng, cho khách hàng doanh nghiệp lớn vay sẽ ít rủi ro hơn so với việc cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ vay không có tài sản đảm bảo. Nhưng tỷ lệ lãi cận biên (NIM) của các khoản vay tín chấp dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ lại cao hơn, có nghĩa là cho các doanh nghiệp nhỏ vay tín chấp lãi hơn rất nhiều so với cho vay thông thường. Đại diện một ngân hàng thương mại cổ phần cho biết, tỷ lệ NIM của khoản vay đối với doanh nghiệp nhỏ có tài sản bảo đảm chỉ xấp xỉ 3%, trong khi đó với vay tín chấp vào khoảng 11%.

Điều đáng nói là dư địa để mở rộng thị trường ở phân khúc này còn rất nhiều. Bởi Việt Nam là một thị trường có hơn 90 triệu dân với tỷ lệ dân số trẻ cao, nhu cầu tiêu dùng là rất lớn. Có tới 97% số doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hơn nữa, chính sách khuyến khích doanh nghiệp tư nhân phát triển của Chính phủ đã tạo ra một làn sóng thành lập doanh nghiệp mới trong hai năm gần đây. Tất cả điều đó đồng nghĩa với việc nhu cầu vay tiêu dùng của người dân và vay vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng rất cao.

Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, năm 2016 tín dụng tiêu dùng tăng mạnh, góp phần duy trì tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ so với GDP. Tín dụng tiêu dùng ước tăng 39% so với cuối năm 2015, chiếm 11,4% tổng tín dụng. Trong đó, gần 50% tín dụng tiêu dùng tập trung vào cho vay sửa chữa nhà, mua nhà để ở với nguồn trả nợ bằng tiền lương của khách vay. Con số trên dự kiến sẽ còn tiếp tục tăng mạnh hơn nữa do nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao và số lượng doanh nghiệp mới thành lập tăng nhanh.

Tất nhiên, như đã nói ở trên, các ngân hàng khi tham gia vào phân khúc này cũng phải chấp nhận rủi ro. Tỷ lệ nợ xấu của VPBank hiện đang ở mức từ 2,7-2,9%, trong đó riêng nợ xấu của Công ty Tài chính FE Credit là khoảng 4%. “Những chỉ số này cũng phản ứng thực tế rằng, phân khúc mà VPBank đang đầu tư có rủi ro hơn bình thường”, ông Vinh nói.

Để giảm thiểu rủi ro, cách duy nhất là các ngân hàng phải đầu tư mạnh hơn vào hệ thống quản trị rủi ro, tăng vốn nhằm đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn. Động thái một loạt các ngân hàng cùng xin tăng vốn điều lệ gần đây đã cho thấy điều đó. Không chỉ có vậy, các ngân hàng cũng đã dành một phần lớn lợi nhuận để trích lập dự phòng trong bối cảnh rủi ro từ nợ xấu vẫn tiềm ẩn.

Như trường hợp của Eximbank, ngân hàng này đã dành tới 70% lợi nhuận năm vừa qua để trích lập dự phòng. VIB năm nay cũng trích mạnh dự phòng tới 46% lợi nhuận vì nợ xấu tăng lên 2,6% so với mức 2% của năm 2016. Hay các ngân hàng khác như ACB, NCB, Sacombank và kể cả những tên tuổi lớn như Vietcombank và Vietinbank cũng đều sử dụng phần lớn lợi nhuận để trích lập dự phòng. Dường như tất cả các ngân hàng đều đang chuẩn bị sẵn sàng đối phó với rủi ro để giành được miếng bánh to hơn trong phân khúc khách hàng cá nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ.