Hoàng Văn Cường, Ủy viên Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội. Ảnh: Internet

Ông Hoàng Văn Cường - Ủy viên Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội. Ảnh: Internet

Ông Hoàng Văn Cường - Ủy viên Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội đã chia sẻ như vậy với DĐDN khi nói về rất nhiều các dự án không hiệu quả vừa được công bố mới đây.

- Tại phiên giải trình trước Ủy ban Kinh tế và Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội mới đây, Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng cho biết, vẫn còn tình trạng một số dự án chuẩn bị đầu tư và phê duyệt quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư dự án mang tính hình thức để có điều kiện ghi kế hoạch vốn. Theo ông, nguyên nhân này xuất phát từ đâu?

Có 2 nguyên nhân dẫn đến những dự án này không hiệu quả. Nguyên nhân thứ nhất là do quá trình triển khai thực hiện dự án làm không tốt, dẫn đến thất thoát hoặc thực hiện không đúng theo thiết kế, không thể vận hành và làm chậm tiến độ. Nguyên nhân thứ nhất rất dễ tìm ra kẽ hở lỗi từ đâu, ai triển khai không đúng, ai thực hiện quy trình sai…

Nguyên nhân thứ hai đang rất được nhiều người nói đến là không quy được trách nhiệm rõ ràng. Từ khâu chuẩn bị dự án không tốt, quyết định tư không đúng. Việc chuẩn bị dự án chỉ để cho có, sau đó tranh thủ “xếp hàng” và “nhận chỗ” ký vốn. Khi có vốn mới quay trở lại chuẩn bị cho dự án kỹ càng hơn.

Khi những dự án không được chuẩn bị kỹ sẽ dẫn đến việc những người được phê duyệt chủ trương đầu tư chưa dựa trên cơ sở thẩm định chính xác hiệu quả và tác động của dự án.

Điều này dẫn đến nhiều chủ trương không phù hợp, nhưng vì “chót” phê duyệt cho nên dù biết không phù hợp vẫn phải thực hiện. Từ đây phát sinh đội vốn rất lớn và nảy sinh ra nhiều hạng mục khác không tính được có hiệu quả hay không, tác động đến kinh tế, môi trường như thế nào.

Đây là những nguyên nhân dẫn đến nhiều dự án bị kéo dài, khi hoàn thành cũng không có hiệu quả.

- Theo ông, với một số cơ quan, đơn vị chấp hành các quy định pháp luật về đầu tư công chưa nghiêm từ khâu quyết định đầu tư, thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn… thì cần phải có biện pháp xử lý thế nào?

Luật Đầu tư công đã quy định rất rõ, khi quyết định chủ trương đầu tư và phê duyệt dự án đầu tư thì phải chỉ ra được nguồn vốn lấy từ đâu, khi phân bổ nguồn vốn đầu tư theo luật đầu tư công thì cũng quy định rất kỹ những địa chỉ ưu tiên. Đơn cử, là những dự án đang dở dang, trả nợ, sẽ hoàn thành, đối ứng… sau khi hoàn thành, số tiền còn lại mới được phê duyệt triển khai dự án mới.

Như vậy, khi ký quyết định một chủ trương đầu tư thì phải nhìn xem tiền còn hay không, tiền lấy từ đâu. Tuy nhiên, việc Bộ trưởng KHĐT nói có những dự án ký đầu tư nhưng không có nguồn chủ yếu xảy ra ở giai đoạn trước khi có Luật Đầu tư công. Trước đây, những người được giao thẩm quyền phê duyệt là cứ ký, kể cả Trung ương hay địa phương. Trung ương phê duyệt xong thì chờ phân bổ ngân sách. Địa phương sau khi phê duyệt cũng hy vọng được Trung ương bổ sung vốn.

Phần lớn các dự án thua lỗ là do phê duyệt từ nhiều năm trước, không phải sau khi có Luật Đầu tư công. Chính vì trước đây chưa có luật nên người ta phê duyệt một cách tràn lan, tùy tiện. Bây giờ phải quay trở lại truy cứu trách nhiệm những người nào có thẩm quyền phê duyệt dự án từ những năm trước đây, cũng như những cơ quan nào đã tham gia vào đề xuất và thẩm định các dự án này.   

Chúng ta chỉ có thể quy trách nhiệm khi chỉ rõ được ai là người phê duyệt, ai là người thẩm định và những người thẩm định đã có ý kiến như thế nào về những dự án này. Nếu những người thẩm định tại thời điểm đó không đồng tình với dự án và chỉ ra những rủi ro, nhưng người phê duyệt vẫn nhất quyết thực hiện thì trách nhiệm thuộc về người phê duyệt. Ngược lại, những cơ quan được yêu cầu thẩm định nhưng không đúng, không chỉ ra những rủi ro thì trách nhiệm thuộc cơ quan thẩm định.

Nhưng tôi khẳng định việc “bắt” được người chịu trách nhiệm cho những dự án này sẽ rất khó khăn. Chúng ta nhìn vào hệ thống luật pháp sẽ thấy, sự ràng buộc trách nhiệm của người phê duyệt, thẩm định hay đệ trình dự án không rõ ràng. Mặc dù vẫn nói trách nhiệm là của ai, mỗi đơn vị sẽ như thế nào, nhưng trách nhiệm đó cũng được quy định hết sức mập mờ.  

Chính sự mập mờ này đã dẫn đến câu chuyện, khi triển khai thẩm định dự án thì cơ quan nào cũng muốn vai trò và trách nhiệm thuộc về cơ quan mình. Người ta gọi đây là tình trạng “tranh giành” và “lôi kéo” công việc. Nhưng khi hậu quả xảy ra thì lại đùn đẩy trách nhiệm, vì luật không quy định cụ thể nếu hậu quả thì trách nhiệm đến đâu, họ biện luận rằng tôi đã làm việc này việc kia và làm đúng “quy trình”. Điều này dẫn đến việc khi “đổ bể” dự án thì rất khó quy trách nhiệm cho từng người.

- Có ý kiến cho rằng, vì không rõ trách nhiệm nên việc kiểm tra giám sát buông lỏng, phân bổ xong là xong, còn đồng vốn đi đến đâu, hiệu quả thế nào lại không rõ ràng, không đi đến cùng. Ông bình luận thế nào về nhận xét trên?

Đúng là có thực trạng này. Những cơ quan có vai trò phân bổ vốn, chia vốn rất lớn, họ có quyền cho ai được, dự án nào được, được bao nhiêu… Tuy nhiên, sau khi phân bổ xong đến khâu triển khai thực hiện thì không còn trách nhiệm. Luật có quy định kiểm tra, giám sát, nhưng kiểm tra giám sát chỉ quy định trách nhiệm về mặt công việc là kiểm tra như thế nào, giám sát những việc gì. Có kiểm tra, giám sát nhưng khi dự án không đạt hiệu quả thì bản thân những người ra quyết định cho phép đầu tư hay phân bổ vốn cũng không chỉ ra được trách nhiệm đến đâu.

Sau khi phân bổ vốn, xét duyệt dự án xong thì gần như trách nhiệm của những cơ quan có liên quan không còn. Họ chỉ cần xét theo công việc chứ không xét theo hậu quả.

- Xin cảm ơn ông!