Lãi suất huy động tăng mạnh

Lãi suất huy động tăng mạnh

18/03/2017 11:35 Sáng

(DĐDN) – Mặc dù các ngân hàng đều khẳng định thanh khoản dư thừa, song mặt bằng lãi suất huy động, đặc biệt là lãi suất trung, dài hạn có dấu hiệu tăng.

Các ngân hàng cũng đua tranh ra mắt các sản phẩm với lãi suất hấp dẫn để hút vốn.

Mặt bằng lãi suất kỳ hạn dưới 12 tháng hiện nay vẫn cơ bản ổn định, song tiền gửi với các kỳ hạn dài, nhất là kỳ hạn 3-5 năm đang được các ngân hàng điều chỉnh tăng khá mạnh. Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng đua tranh ra mắt các sản phẩm với lãi suất hấp dẫn để hút vốn.

Từ ngày 15/3, Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) bắt đầu phát hành chứng chỉ tiền gửi, với lãi suất “siêu hấp dẫn”. Cụ thể, Sacombank phát hành chứng chỉ tiền gửi bằng Việt Nam đồng trên toàn hệ thống, dành cho cả khách hàng cá nhân và tổ chức.

Khách hàng tham gia chứng chỉ tiền gửi với mệnh giá tối thiểu là 10 triệu đồng kỳ hạn 5 năm +1 ngày hoặc 7 năm sẽ nhận được những ưu đãi như: lãi suất hấp dẫn 8,48%/năm cho kỳ hạn 5 năm +1 ngày và 8,88%/năm cho kỳ hạn 7 năm trong năm đầu tiên.

Là loại chứng chỉ tiền gửi kỳ hạn dài, lãi suất được áp ở mức cao và đây cũng là những mức lãi suất cao hiếm thấy, đặc biệt là dành cho khách hàng cá nhân, trong những năm gần đây và hiện nay. Ngoài các mức lãi suất trên, Sacombank còn áp chính sách ưu đãi lãi suất cho khách hàng khi vay cầm cố chứng chỉ tiền gửi trên.

Trước đó, VPBank cũng điều chỉnh lãi suất với chứng chỉ tiền gửi, áp dụng từ ngày 9/3. Theo đó, lãi suất huy động kỳ hạn 5 năm lên tới 9,2%, áp dụng cho các khoản tiền gửi từ 10 tỷ đồng trở lên. Lãi suất áp dụng cho chứng chỉ tiền gửi kỳ hạn 18 tháng cao nhất là 7,8% và kỳ hạn 36 tháng là 8,1%, cao hơn 0,6-0,7% so với biểu lãi suất tiền gửi thông thường….

Tại Ngân hàng TMCP Phương Đông (OCB) khách hàng gửi tiết kiệm kỳ hạn từ 7 đến 11 tháng được áp dụng lãi suất 6,6-7%/năm, tăng 0,1-0,2%/năm so với trước. Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu (Eximbank) công bố biểu lãi suất mới, điều chỉnh tăng 0,1-0,2%/năm ở một số kỳ hạn. Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín (VietBank) điều chỉnh lãi suất 0,05-0,8%/năm cho chương trình “Thần tài gõ cửa” với khách hàng cá nhân gửi tiết kiệm kỳ hạn từ một tháng trở lên…

Nguyên nhân khiến mặt bằng lãi suất tăng, nhất là ở kỳ hạn dài ngày, theo đánh giá của TS. Nguyễn Trí Hiếu – chuyên gia tài chính là do các ngân hàng đang phải tái cơ cấu lại nguồn vốn để đáp ứng quy định giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung-dài hạn từ 60% xuống còn 50% kể từ đầu năm 2017 theo quy định tại Thông tư 06/2016/TT-NHNN. Vì vậy, không chỉ với các nhà băng quy mô vừa và nhỏ, ngay cả những ngân hàng lớn cũng chạy đua tung khuyến mãi, quà tặng, nhằm cạnh tranh hút tiền nhàn rỗi trong dân cư.

Bên cạnh đó, việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa ban hành Thông tư 39/2017/TT-NHNN chính thức cởi trói cho lãi suất cho vay trung, dài hạn cũng được coi là yếu tố đẩy lãi suất đi lên.

Mặc dù lãi suất huy động mới tăng mạnh ở những kỳ hạn dài, kỳ hạn ngắn ở nhiều ngân hàng khá ổn định hoặc chỉ nhích nhẹ, song nhiều ý kiến lo ngại nếu lãi suất huy động tiếp tục tăng thì lãi suất cho vay cũng sẽ tăng theo.

Ở một diễn biến khác, tuần qua, lãi suất liên ngân hàng có xu hướng tăng khá mạnh với biên độ từ 0,45% – 0,81% đối với tất cả các loại kỳ hạn. Công ty chứng khoán BVSC đánh giá, việc lãi suất liên ngân hàng đảo chiều tăng mạnh cho thấy trạng thái eo hẹp thanh khoản bắt đầu quay trở lại.

Theo Ngân hàng Nhà nước, định hướng tổng phương tiện thanh toán trong năm 2017 tăng khoảng 16-18%; tín dụng tăng khoảng 18% so với năm trước, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế. Trong thời gian tới, NHNN cho biết sẽ tiếp tục điều hành đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ để điều tiết thanh khoản hợp lý, điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, nhằm phấn đấu ổn định mặt bằng lãi suất.

Châu Huệ

>> Ngân hàng Nhà nước nói gì việc lãi suất huy động tăng nhẹ đầu năm 2017?

Tags :

Ý kiến bạn đọc

Tin khác đã đăng

Theo bạn, nữ doanh nhân nào có tầm ảnh hưởng nhất?
  • 7.46%
  • 4.48%
  • 5.97%
  • 2.99%
  • 22.39%
  • 10.45%
  • 1.49%
  • 1.49%
  • 13.43%
  • 19.4%
  • 5.97%
  • 4.48%